Trang

Thứ Hai, 22 tháng 4, 2013

ĐẤT NƯỚC NHỮNG THÁNG NĂM THẬT BUỒN


Nguyễn Khoa Điềm


Đất nước những năm thật buồn
Nửa đêm ngồi dậy hút thuốc vặt
Lần mò trên trang mạng tìm một tin lành
Như kẻ khát nước qua sa mạc
Chung quanh yên ắng cả
Ngoài đường nhựa vắng tiếng xe lại qua
Người giàu, người nghèo đều ngủ
Cả bầy ve vừa lột xác
Sao mình thức?
Sao mình mải mê đeo đuổi một ngày mai tốt lành?
Bây giờ lá cờ trên Cột cờ Đại Nội
Có còn bay trong đêm
Sớm mai còn giữ được màu đỏ?
Bây giờ con cá hanh còn bơi trên sông vắng
Mong gặp một con cá hanh khác?
Bao giờ buổi sáng, buổi chiều nhìn ra đường
Thấy mọi người nhẹ nhàng, vui tươi
Ấm áp ly cà phê sớm
Các bà các cô khỏe mạnh yêu đời
Hớn hở tập thể dục
Bao giờ giọt nước mắt chảy xuống má
Không phải gạt vội vì xấu hổ
Ngước mắt, tin yêu mọi người
Ai sẽ nắm vận mệnh chúng ta
Trong không gian đầy sợ hãi?
Những cây thông trên núi Ngự Bình thấp thoáng ngọn nến xanh
Đời đời an ủi
Cho người đã khuất và người sống hôm nay …

22.4.2013

Nguồn: Quê Choa.

Thứ Ba, 16 tháng 4, 2013

Đừng tưởng




Đừng tưởng


Đừng tưởng cứ núi là cao
Cứ sông là chảy, cứ ao là tù
Đừng tưởng cứ dưới là ngu
Cứ trên là sáng cứ tu là hiền
Đừng tưởng cứ đẹp là tiên
Cứ nhiều là được cứ tiền là xong
Đừng tưởng không nói là câm
Không nghe là điếc không trông là mù
* * *

Thứ Sáu, 12 tháng 4, 2013

5 lần phá CNXH để tồn tại


5 lần phá CNXH để tồn tại

NQL: Hi hi bác Ngô Minh tổng kết thật vui. Câu hỏi đặt ra trước Hội nghị TW7 là: Liệu có phá lần thứ 6 hay không? Chắc không. Khó lắm, khó lắm. Lực lượng các đồng chí lú trong đảng còn rất đông.
Không ai biết Chủ nghĩa xã hội ( CNXH) là một hình thái xã hội như thế nào. Nó có trong trí tưởng của ai đó hay có ở hành tinh khác. Chỉ nghe thầy giáo chính trị giảng đi giảng lại trong lớp học từ bé lớp một cho đến sinh viên đại học, rằng : Nước ta đang xây dựng CNXH, giai đọn đầu của Chủ nghĩa Cộng sản. Chủ nghĩa xã hội là sung sướng gấp vạn lần, dân chủ, tự do gấp vạn lần chủ nghĩa tư bản. Nhưng thực tế ở nước ta ( và nhiều nước CNXH “anh em” khác như Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba, các nước Đông Âu , Liên Xô ( cũ) 80 năm qua, càng xây dựng CNXH thì cuộc sống càng đi xuống,bị kềm nén không có tự do báo chí, không có tự do lập hội, thiếu dân chủ.v.v..Chỉ đi xe chục tiếng sang Thái Lan, thấy đời sống nước họ, tự do dân chủ nước họ mà thèm. Đó là chưa nối đến Hà Lan,Thụy Sĩ, Thủy Điển, Đan Mạch… cuộc sống của họ là thiên đường thực sự . Ở xứ ta, chỉ có giai cấp lãnh đạo Đảng, Chính quyền là ngày càng giàu sang và quyền lực. Các nước Đông Âu và Liên Xô đã làm một cuộc “cách mạng mềm” lật đổ CNXH để xây dựng cuộc sống mới. Bốn trăm triệu người ở Liên Xô và Đông Âu được giải phóng, vô cùng hoan hỷ. Nước ta từ năm 1954 ở miền Bắc và từ sau năm 1975 trên cả nước, ai cũng nhận thấy càng xây dựng CNXH thì dân càng đói kém, cuộc sống càng bị o ép khổ cực. Đến bây giờ nước ta vẫn được xếp hạng một trong những nước nghèo nhất thế giới. Nhưng nhân dân ta đã có những cuộc vượt phá chiếc “vòng kim cô” “ CNXH” để mưu sinh và tôn tại rất ngoạn mục

Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2013

ĐẲNG CẤP VĂN THƠ ViỆT


ĐẲNG CẤP VĂN THƠ ViỆT

Nguyễn Hoàng Đức 

Cuộc đời không cách gì thoát khỏi so sánh, sắp xếp, và trao thứ tự. Đơn giản nhất, khi ra chợ, người bán rau lẫn người bán thịt, đều xếp riêng từng loại rau hay thịt, để từ đó định giá riêng cho mỗi loại cao thấp khác nhau. Sự phân loại riêng biệt đó bắt đầu ngay từ nhà của mỗi nông dân. Người ta chọn hàng đẹp hơn đem ra chợ bán, cái kém hơn thì để nhà dùng, giống câu phương ngôn của người Việt “tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại”. Trong lớp học, thầy cô cũng phân loại để xem em nào cần phát huy, em nào cần nâng đỡ. 

Không có phân biệt thì không có sắp đặt từ thấp đến cao! Và nếu không có sắp đặt thì không có trật tự! Không trật tự sẽ hỗn loạn, và trong một cơ thể sống nó bị coi là điên. Đó chính là tư tưởng của triệt gia Aristote. Còn người Việt nói, đó là loại người nôm na mách qué, dở ông dở thằng, hay hâm hấp cám lợn. 

Kiến trúc là môn nghệ thuật đầu tiên của loài người, vì ở quan trọng đầu tiên. Nó luôn luôn phải phân biệt từ móng đến mái, tức là từ thấp đến cao. Trong tật tự lập trình của bất kể việc gì từ xã hội đến khoa học người ta đều phải phân biệt và sắp đặt. Một đội quân cần ai đi trước ai đi sau, ai tổ trưởng ai tổ phó; một giàn nhạc cần vị trí ở từng bè, một gánh xiếc khi chồng lên nhau – ai to đứng dưới, ai nhỏ đứng trên, và một đoàn rước thì trẻ con đi đầu vua chúa ra sau. Một phác thảo hay chế tạo khoa học cũng vậy, chiếc máy bay được xác định động cơ là quan trọng nhất nên người ta làm nhiều động cơ cho một chiếc máy bay để đề phòng rủi ro mà không thể làm nhiểu cánh… 

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

Những con chữ biểu tình


Những con chữ biểu tình

376568_304512359651712_60558138_nNTT: Được tin tàu Trung Quốc nã đạn vào ngư thuyền Quảng Ngãi trên vùng biển thuộc hải phận Việt Nam, lại nhớ đến những cuộc biểu tình chống TQ xâm phạm lãnh hải trước đây. Giờ thì im lặng quá, vì đã có “đảng và nhà nước lo”. Lại nghe các ông nghị đưa ra nhiều đề xuất phản cảm như “Đi kiện phải nạp tiền đặt cọc”, “Gửi tiền tiết kiệm phải nộp thuế”, “CA có quyền bắn người chống người thi hành công vụ”, “Quân đội chỉ trung với đảng…”, v.v… Nghe cứ tức anh ách. Đành phải cho mấy con chữ nó đi biểu tình thay người vậy…
Dân không được biểu tình. Những con chữ biểu tình
Những con chữ dàn hàng ngang hàng dọc
Quảng trường giấy, chữ sắp hàng dày đặc
Chữ hô vang “đả đảo”, “hoan nghênh”…
Đả đảo bọn ngoại bang cướp thuyền, cướp biển
Đả đảo bọn quan tham quan nhũng hại Dân
Đả đảo bọn cướp ngày chém giết
Bọn đạp lên pháp luật làm càn.
Hỡi những chiếc dùi cui hãy quay về đúng hướng
Hỡi súng ngắn súng dài đừng nã đạn vào Dân
Hỡi quân đội hãy xả thân vệ quốc
Hỡi đảng hãy nghe Dân như từng đã bao lần…
Những con chữ hiến thân vì Tổ quốc
Dù mực đen mực đỏ mực xanh
Viết trên mạng hay viết trên giấy úa
Viết bằng tim bằng máu của chính mình.
Chữ hoan nghênh chính đại quang minh
Chữ đâm thủng trò mị dân đen tối
Hoan nghênh người có công, tuyên phạt quân phạm tội
Chữ hát vang Bài ca chữ tự do…
Chữ biểu tình cho áo ấm cơm no
Chữ biểu tình cho dân giàu nước mạnh
Chữ biểu tình cho quyền được sống
Chữ biểu tình cho Độc lập Hòa bình
Hỡi đàn-cừu-con-chữ hãy đứng lên
Đứng dày đặc trên bản đồ Tổ quốc
Những con chữ mấy nghìn năm có được
Chữ là Dân – chữ không chết bao giờ.
Hà Nội, 26.3.2013
NTT

ÂM HƯỞNG CỦA MỘT BÀI THƠ




HÀNH TRÌNH CỦA MỘT BÀI THƠ



CD Nguyễn Long

Thường dân

Đông thì chật, ít thì thưa
chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân
quanh năm chân đất đầu trần
tác tao sau những vũ vần bão giông.

Khi làm cây mác cây chông
khi thành biển cả, khi không là gì
thấp cao đâu có làm chi
cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi.

Ăn của đất, uống của trời
dốc lòng cởi dạ cho người mình tin
ồn ào mà vẫn lặng im
mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn.

Chỉ mong ấm áo no cơm
chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành.
Hòa vào trời đất mà xanh
vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.


HÀNH TRÌNH CỦA MỘT BÀI THƠ

NGUYỄN LONG
(Giải nhất cuộc thi thơ lục bát của Tuần báo Văn nghệ 2002)

         Văn nghệ Trẻ -  Đợt mất ổn định ở nông thôn Thái Bình những năm cuối thế kỷ XX vừa qua đã giúp tôi ngộ ra nhiều điều về số phận cũng như bản chất của người nông dân nói riêng, thường dân nói chung. Đó cũng là cảm hứng khơi nguồn cho tôi viết bài thơ Thường dân. Ngẫm nghĩ mãi, tới đầu năm 2000 bài thơ mà tôi mong muốn mới hoàn thành. Tôi nhớ được khá chính xác thời gian trên vì khi đó cậu con trai út Nguyễn Nam của tôi chưa tròn một tuổi. Cái câu kết bài thơ được tôi nghĩ ra khi đang phải phơi quần áo cho con.

          Bài thơ xong rồi, đọc lại thấy câu tứ đã hoàn chỉnh, nhưng trong tôi có cảm giác chộn rộn, bất an. Cái cảm giác ấy có từ khi tôi viết xong bài ký về làng quê sau ngày mất ổn định với cái tít là Xóm làng sau bão. Tôi đưa cho bài ký cho nhà thơ Kim Chuông lúc đó là Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Thái Bình nơi tôi công tác đọc giúp. Đọc xong ông khuyên tôi: "Muốn yên lành, cậu đừng viết những gì gai góc". Do vậy tôi cất biệt bài thơ đi, chẳng gửi in cũng chẳng đọc cho ai nghe.

Gần hai năm sau tôi mới đưa cho ông bạn nhà báo Thiếu Văn Sơn, chủ tịch Hôị Nhà báo Thái Bình đem in trên tạp chí Nghề Báo, một tờ nội san của Hội chỉ in phát cho hội viên. Nhà văn Đức Hậu chủ tịch Hội VHNT Thái Bình là người đầu tiên đọc được và  khen: "Bài thơ của cậu có tầm, viết kinh đấy". Ít ngày sau, nhà thơ Hà Cừ tổng biên tập báo Hải Dương chẳng biết đọc được khi nào đã đem về in trên mục Đến với bài thơ hay của báo. Thấy có vẻ yên và bài thơ nhận được sự đồng cảm của nhiều người, nhân dịp có thông báo cuộc thi thơ lục bát của báo Văn nghệ (đăng trên Văn nghệ Trẻ tôi chọn một chùm có bài Thường dân gửi đi. Bài thơ được đăng mấy hôm thì nhà thơ Quang Huy, một người có chân trong Ban giám khảo cuộc thi đã chọn bài thơ Thường dân cùng 4 bài thơ khác của các nhà thơ Nguyễn Duy, Nguyễn Thanh Mừng, Phạm Thị Ngọc Liên và Phạm Minh Dương giới thiệu là những bài lục bát tiêu biểu trên báo Lao Động chủ nhật. Cũng bắt đầu từ đó các đơn thư “đánh” bài Thường dân tới tấp gửi về Văn nghệ Trẻ. Chủ yếu là tố cáoThường dân có nội dung sai phạm. Một số kiến nghị bài thơ in trên báo Lao động là phạm quy... Nhà thơ Đỗ Bạch Mai thư ký thường trực cuộc thi lúc bấy giờ đã phải gọi tôi lên Hà Nội điều trần những khúc mắc. Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi thời gian đó chưa biết tôi là ai cũng điện về Thái Bình cho nhà thơ Kim Chuông hỏi về tôi.

Khi chấm xong vòng chung khảo, nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi  thông báo cho tôi biết, trong gần 4 vạn bài thơ dự thi,Thường dân là bài thơ duy nhất được 9/9 phiếu cho giải A. Nhưng Báo Văn nghệ đang cân nhắc có thể phải bỏ phiếu lại vì nhận được nhiều ý kiến gửi đến cho là bài thơ “có vấn đề”. Nhưng các ông Nguyễn Bùi Vợi, Quang Huy, Vũ Quần Phương, Ngô Văn Phú là những người trong ban giám khảo đã phản đối dứt khoát không họp lại. Sau đó, bài thơ Thường dân, Về làng của tôi cùng các chùm thơ của các nhà thơ Bình Nguyên, Kao Sơn đã được trao giải nhất của cuộc thi.

Cũng từ đó,  bài thơ ngày càng được công luận chú ý tới. Tôi còn lưu giữ mấy chục tờ báo, tạp chí giới thiệu về bàiThường dân. Ở Trung ương không chỉ các báo Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội, Nhân dân, Lao động, Tiền phong, Thể thao văn hoá, Văn nghệ Công an, Thanh niên... mà cả báo Khoa học đời sống, Tiếng nói Việt Nam, Đất Việt... Báo địa phương thì khắp các miền vùng cả nước như: Phú Thọ, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Lâm Đồng, Văn nghệ Thành phố Hồ chí Minh, Tuổi trẻ TP... Với báo mạng thì không kể hết. Vào Google tìmnguyenlong.thuongdan  là có tới hàng ngàn kết quả. Có vài blog còn dịch cả bài thơ Thường dân sang Anh ngữ. Rất nhiều nhà thơ, nhà báo và các tác giả không chuyên đã  viết lời bình và làm phỏng vấn tôi về bài thơ. Tiêu biểu là các bài của cố nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, của các nhà thơ Quang Huy, Kim Chuông, Đỗ Trọng Khơi, Nguyễn Hàn Chung... các nhà văn, nhà báo Đức Hậu, Khánh Phương (Báo Thể thao văn hoá), Phùng Nguyên (Báo Tiền Phong), Dư Hồng Quảng (Phú Thọ), Bích Ngân (Báo Tuổi trẻ), Nguyễn Thế Nữu (TC Hồn Việt) , Nguyễn Thế Quang, Vũ Duy Yên... Nhiều báo huyện, báo... xã cũng đăng tải bài thơ. Ngày còn sống, cố nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi có lần gọi cho tôi bảo bàiThường dân đã hoà nhập với thế giới và đi vào mọi ngõ ngách cuộc sống, nó được đăng cả ở tờ nội san Thanh Chương quê huyện nghèo nhà ông.

Được đăng tải như vậy nên Thường dân được rất nhiều người nhớ. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong bài “Viết gì cho hôm nay” kể rằng ông rất ngạc nhiên khi một lần ngồi uống rượu với cựu Bộ trưởng Trương Đình Tuyển, ông này đã đọc thuộc cả bài Thường dân cho mọi người nghe. Các ông quan hàng Tỉnh, hàng huyện, hàng xã ở Thái Bình không mấy người là không thuộc bài thơ. Các ông Nguyễn Nhật Lai, nguyên chủ tịch huyện Hưng Hà, Đặng Tài nguyên chủ tịch huyện Kiến Xương rồi cả ông Nguyễn Hồng Chuyên chủ tịch Hưng Hà bây giờ kể, nhiều lần tiếp dân khiếu kiện các ông đã đem bài Thường dân ra đọc và giảng giải cho họ nghe nên có lần tránh được căng thẳng. Dân nhiều nơi trong nước truyền nhau bài thơ, nhưng phổ biến hơn cả có lẽ là ở Nghệ An và Phú Thọ. Năm 2004 đoàn văn nghệ sỹ Thái Bình có chuyến đi thực tế miền Trung, nhà thơ Lê Thái Sơn, chủ tịch Hội VHNT Nghệ An lúc bấy giờ điện nói nửa đùa nửa thật với nhà văn Đức Hậu là nếu không có tác giả Thường dân đi theo thì Nghệ An sẽ không đón tiếp đoàn Thái Bình. Các anh Chu Vĩnh Phương, Cao Bá Trang và một số người ở câu lạc bộ thơ Nghĩa Đàn đã thuê một xe ô tô ra tận Thái Bình thăm và chụp ảnh chung với tôi. Còn hoạ sỹ Đỗ Ngọc Dũng chủ tịch Hội VHNT Phú Thọ kể rằng một dạo lúc nào trong túi ông cũng có hàng trăm bản photo bài thơ Thường dân để phát cho mọi người. Cụ Tô Tuấn Khải ở câu lạc bộ thơ huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng cũng viết thư cho tôi, bảo cụ đã phải chi tới 300 ngàn đồng tiền lương hưu phô tô bài thơ Thường dân để phân phát cho những ai yêu thích vv và vv...

Cho tới nay tôi đã nhận được hàng trăm bức thư và các bài thơ gửi từ nhiều vùng đất nước bày tỏ sự đồng cảm với bài thơ Thường dân. Có những chuyện cảm động như: ông Nguyễn Thế Phùng ở đài PTTH Thanh Hoá kể ông có ông chú ruột đã ngoài 80 tuổi có 5 con đi bộ đội nay đã trở về làm ruộng. Đọc xong bài Thường dân ông đã khóc và bảo bài thơ đã nói hộ tình cảnh nhà ông. Hay, nhà báo Bích Ngân viết trên báo Tuổi trẻ “…trong chuyến đi thực tế của đoàn Hội nghệ sỹ sân khấu VN tại Tây Nguyên, đạo diễn Nguyễn Văn Bộ, chánh văn phòng Hội người đã tham gia đóng phim Bí thư Tỉnh uỷ, anh có duyên diễn trò làm mọi người cười suốt dọc đường. Nhưng khi đọc bài thơ Thường dân anh lại trang nghiêm như trước đó đứng cúi đầu trước đài tưởng niệm các liệt sỹ đã hy sinh bảo vệ biên giới, khiến cả đoàn lặng đi xúc động. Người thì bấm vội điện thoại ghi âm, người thì yêu cầu đọc lại bài thơ… ”. Còn những chuyện vui thì nhiều. Vui nhất là năm 2004 cố Nhạc sỹ Trần Hoàn về Thái Bình chủ trì một lớp tập huấn. Ông đã đọc bài thơ nên khi gặp, ông gọi tôi là "Thường dân". Có lẽ cũng từ đó mà nhiều người hay lấy tên bài thơ gọi thay tên tôi.

Kể từ khi bài thơ đoạt giải báo Văn nghệ  tính đến nay đã 10 năm. Rất nhiều hiện người vẫn gọi tôi bằng cái tên Thường dân. Và mới gần đây, tháng 10, tháng 11 năm 2012, một số báo như Lâm Đồng, Hồn Việt vẫn tiếp tục giới thiệu thêm những lời bình mới về bài thơ, nhiều trang mạng vẫn liên tục tải bài Thường dân về. Có lẽ nói như chị Bích Ngân, báo Tuổi trẻ, là bài thơ được bạn đọc nuôi dưỡng rồi nó phổng phao cùng với rộng dài cuộc sống. Nên chục năm nay nó vẫn còn âm hưởng trong lòng bạn đọc
                                                                                                                       N.L

 Theo Văn nghệ Trẻ (So 13 - ngay 31/3/2013)


Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

LỰC LƯỢNG VŨ TRANG PHẢI TRUNG THÀNH VỚI TỔ QUỐC


LỰC LƯỢNG VŨ TRANG PHẢI TRUNG THÀNH VỚI TỔ QUỐC 
Nguyễn Trọng Vĩnh
Cũng như một ông gì trước đây, mới rồi, để bảo vệ cho Điều 70 trong Dự thảo Hiến pháp sử đổi, ông Tô Lâm nói: “Đảng Cộng sản lập ra và rèn luyện các lược lượng vũ trang, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản, vậy Điều 70 ghi Lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam là đúng”.
Vậy hãy thử đưa thực tế ra để xem ông Tô Lâm nói đúng hay sai:
Sau khi về nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lập ra Mặt trận “Việt Nam độc lập đồng minh” gọi tắt là “Việt Minh” và trong khu rừng Trần Hưng Đạo ở Cao Bằng, chính Người lập ra Đội Võ trang tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 người và giao cho đồng chí Văn (tức Võ Nguyên Giáp) chỉ huy, Người không nhân danh Đảng Cộng sản, Người cũng chưa lấy tên Hồ Chí Minh, nhân dân gọi Người là “ông Ké”.