Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhung bai ve Thuong dan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nhung bai ve Thuong dan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2020

NĂM THI PHẨM ĐƯƠNG ĐẠI CỦA THƠ THÁI BÌNH

Đỗ Trọng Khơi

Tôi đang làm một tập bình thơ, bình các bài thơ hay cổ/cận và hiện đại. Trong tập tôi dành một phần nhỏ, cuối tập chọn/bình 5 thi phẩm của 5 tác giả đương đại quê Thái Bình. Xin trân trọng gt cùng bạn đọc).





THƯỜNG DÂN

Đông thì chật, ít thì thưa
Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân
Quanh năm chân đất đầu trần
Tác tao sau những vũ vần bão dông

Khi làm cây mác cây chông
Khi thành biển cả khi không là gì
Thấp cao đâu có hề chi
Cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi

Ăn của đất, uống của trời
Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin
Ồn ào mà vãn lặng im
Mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn

Chỉ mong ấm áo no cơm
Chắt chiu dàng dụm thảo thơm ngọt lành
Hoà vào tời đất mà xanh
Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.
NGUYỄN LONG

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019

CẢM NHẬN VỀ THƯỜNG DÂN CỦA ĐỖ LÂM HÀ

THƯỜNG DÂN
NGUYỄN LONG

Đông thì chật, ít thì thưa
chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân
quanh năm chân đất đầu trần
tác tao sau những vũ vần bão giông


Khi làm cây mác cây chông
khi thành biển cả, khi không là gì
thấp cao đâu có hề chi
cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi

Ăn của đất, uống của trời
dốc lòng cởi dạ cho người mình tin
ồn ào mà vẫn lặng im
mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn

Chỉ mong ấm áo no cơm
chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành
hòa vào trời đất mà xanh
vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.

LỜI BÌNH CỦA NHÀ GIÁO ĐỖ LÂM HÀ

Khi tôi viết những lời cảm nhận này, bài thơ Thường dân của Nguyễn Long đã xuất hiện trên thi đàn đất nước 16 năm (2003 – 2019), đã vượt qua cái mức thử thách của khoảng thời gian khắt khe nhất: “Mười năm năm ấy biết bao nhiêu tình” để tồn tại lan thấm vào tâm hồn bạn đọc về phía tương lai.

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2015

ẨN NGHĨA TRONG BÀI THƠ THƯỜNG DÂN CỦA NGUYỄN LONG?

Phạm Hoài Ngọc hiện là Phó hiệu trường trường THPT Nam Duyên Hà (Thái Bình), một cây bút thơ của Hội VHNT Thái Bình, vừa chia sẻ cho mình bài viết này trên FB, mình cảm ơn thịnh tình của tác giả và rinh về đây để lư giữ.

Bài thơ Thường dân là một bài thơ hiếm gặp. Bởi lẽ, cái khẩu khí như vậy thì ở đâu đó cũng có nhưng chỉ là một vài câu cảm thán, vài câu đọc chơi bời lúc trà dư tửu hậu mà thôi. Chứ là một bài thơ thế sự đậm chất trữ tình và nhất là khi trình làng lại được đón nhận nồng nhiệt và tạo ra một hiệu ứng sâu rộng thì quả là đặc biệt.
Thường dân hay là dân thường, người không có chức vụ, danh vị trong xã hội. Họ là lớp người đông đảo, như là cỏ, như là nước, là cây chông, cây mác nhiều nhưng không thừa, bởi họ là những con người hữu ích, bởi họ có giá trị tự thân:Khi là cây mác cây chông/Khi thành biển cả, khi không là gì.
Ở đây cả khi nói: khi không là gì, cũng đã hàm ẩn một sức mạnh chất chứa, một sức mạnh tiềm ẩn có thể làm nên những vụ vần bão giông chứ không phải chỉ chịu những tác tao. Câu thơ làm nhớ lại lời cổ nhân: Dân như nước.

Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

BÀI VIẾT CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU THÁI DOÃN HIỂU

          
Khoảng đầu năm 2005 nhà biên tập Thái Doãn Hiểu từ thành phố Hồ chí Minh ra Bắc, ông có về qua Thái Bình gặp và lấy tư liệu để viết về thơ Đỗ Trọng Khơi và thơ Nguyễn Long. Ông bảo đang làm tập Thi nhân Việt Nam hiện đại. Ông dự kiến chọn được gần 200 cây bút thơ từ thời chống Pháp đến nay của cả nước để đưa vào tập. Ở Thái Bình có hàng trăm cây bút thơ nhưng ông chỉ chọn giới thiệu hai người. Cuối năm 2007 ông điện ra nói đã viết xong bài về thơ mình và sắp xuất bản tập Thi nhân VN và gửi cho mình bài viết này. Sau đó nghe nói tập sách của ông đã được xuất bản nhưng mình chưa được nhìn thấy lần nào. Nay mới có thời gian tập hợp và đưa bài viết của ông lên blog.
          Mình làm thơ tay trái, thơ phú lại phọt phẹt mà được một nhà nghiên cứu biên tập có uy tín như ông biết đến lại đưa lên sách nữa thì lấy làm may mắn và biết ơn tác giả nhiều nhiều lắm. (NGUYỄN LONG)


THÁI DOÃN HIỂU

THƯỜNG DÂN LO NỖI KIẾP LÀNG

         
Nhà biên tập THÁI DOÃN HIỂU
Bước sang thế kỷ XXI, từ quê lúa Thái Bình, Nguyễn Long đã rất ấn tượng khi trình chính giữa làng thơ bằng tất cả vẻ độc đáo không lẫn vào ai của mình. Anh chơi khá hay, độc một điệu lục bát, độc một đề tài làng quê và người quê. Nguyễn Long giống như một cây đàn độc huyền sành điệu.
          Nguyễn Long, Long là rồng. Một con rồng thơ lạ đang vút lên sau lũy tre làng.

          * * *
         
          Nguyễn Long tâm sự với chúng tôi: Anh sinh ra và lớn lên ở làng quê. Tuổi thơ nửa ngày đi học, nửa ngày chăn trâu cắt cỏ, bốc bùn. Học xong cấp 3 (PTTH) trường huyện là vào thẳng ngay quân ngũ. Chiến đấu ở chiến trường Bắc Quảng Trị, Tây Nguyên bốn năm, mặc áo lính đeo quân hàm thiếu úy, sau chuyển ngành về công tác ở bộ Giao thông vận tải 8 năm. Đang học dở đại học Giao thông năm thứ tư thì bỏ sang Đức học nghề và kiếm tiền 10 năm. Năm 1988 về nước làm báo ở tạp chí Văn nghệ Thái Bình cho tới khi nghỉ hưu.
          Về cuộc sống gia đình anh có hai con một trai, một gái. Bố là nhà báo Nguyễn Văn ở Thái Bình đã nghỉ hưu (mất đầu năm 2013). Mẹ là nông dân nhưng mê đọc truyện Kiều và truyện Tầu. Các anh chị em trong gia đình đều là công nhân viên chức nhà nước nhưng say mê văn chương, nhà có năm người là hội viên Hội VHNT Thái Bình. Bản thân Nguyễn Long cũng mê văn chương từ nhỏ, nhưng ngoài 40 tuổi mới chuyên chú tới thơ. Lý do cũng đơn giản: Trước đó chỉ viết báo tay trái bởi nghĩ văn chương là thứ cao siêu không dám động vào. Sau đọc văn chương cả nước, thấy quá nhiều văn thơ dở, tự nhủ mình làm được hơn thế và mới cầm lấy bút.

Thứ Tư, 27 tháng 3, 2013

ÂM HƯỞNG CỦA MỘT BÀI THƠ




HÀNH TRÌNH CỦA MỘT BÀI THƠ



CD Nguyễn Long

Thường dân

Đông thì chật, ít thì thưa
chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân
quanh năm chân đất đầu trần
tác tao sau những vũ vần bão giông.

Khi làm cây mác cây chông
khi thành biển cả, khi không là gì
thấp cao đâu có làm chi
cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi.

Ăn của đất, uống của trời
dốc lòng cởi dạ cho người mình tin
ồn ào mà vẫn lặng im
mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn.

Chỉ mong ấm áo no cơm
chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành.
Hòa vào trời đất mà xanh
vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.


HÀNH TRÌNH CỦA MỘT BÀI THƠ

NGUYỄN LONG
(Giải nhất cuộc thi thơ lục bát của Tuần báo Văn nghệ 2002)

         Văn nghệ Trẻ -  Đợt mất ổn định ở nông thôn Thái Bình những năm cuối thế kỷ XX vừa qua đã giúp tôi ngộ ra nhiều điều về số phận cũng như bản chất của người nông dân nói riêng, thường dân nói chung. Đó cũng là cảm hứng khơi nguồn cho tôi viết bài thơ Thường dân. Ngẫm nghĩ mãi, tới đầu năm 2000 bài thơ mà tôi mong muốn mới hoàn thành. Tôi nhớ được khá chính xác thời gian trên vì khi đó cậu con trai út Nguyễn Nam của tôi chưa tròn một tuổi. Cái câu kết bài thơ được tôi nghĩ ra khi đang phải phơi quần áo cho con.

          Bài thơ xong rồi, đọc lại thấy câu tứ đã hoàn chỉnh, nhưng trong tôi có cảm giác chộn rộn, bất an. Cái cảm giác ấy có từ khi tôi viết xong bài ký về làng quê sau ngày mất ổn định với cái tít là Xóm làng sau bão. Tôi đưa cho bài ký cho nhà thơ Kim Chuông lúc đó là Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Thái Bình nơi tôi công tác đọc giúp. Đọc xong ông khuyên tôi: "Muốn yên lành, cậu đừng viết những gì gai góc". Do vậy tôi cất biệt bài thơ đi, chẳng gửi in cũng chẳng đọc cho ai nghe.

Gần hai năm sau tôi mới đưa cho ông bạn nhà báo Thiếu Văn Sơn, chủ tịch Hôị Nhà báo Thái Bình đem in trên tạp chí Nghề Báo, một tờ nội san của Hội chỉ in phát cho hội viên. Nhà văn Đức Hậu chủ tịch Hội VHNT Thái Bình là người đầu tiên đọc được và  khen: "Bài thơ của cậu có tầm, viết kinh đấy". Ít ngày sau, nhà thơ Hà Cừ tổng biên tập báo Hải Dương chẳng biết đọc được khi nào đã đem về in trên mục Đến với bài thơ hay của báo. Thấy có vẻ yên và bài thơ nhận được sự đồng cảm của nhiều người, nhân dịp có thông báo cuộc thi thơ lục bát của báo Văn nghệ (đăng trên Văn nghệ Trẻ tôi chọn một chùm có bài Thường dân gửi đi. Bài thơ được đăng mấy hôm thì nhà thơ Quang Huy, một người có chân trong Ban giám khảo cuộc thi đã chọn bài thơ Thường dân cùng 4 bài thơ khác của các nhà thơ Nguyễn Duy, Nguyễn Thanh Mừng, Phạm Thị Ngọc Liên và Phạm Minh Dương giới thiệu là những bài lục bát tiêu biểu trên báo Lao Động chủ nhật. Cũng bắt đầu từ đó các đơn thư “đánh” bài Thường dân tới tấp gửi về Văn nghệ Trẻ. Chủ yếu là tố cáoThường dân có nội dung sai phạm. Một số kiến nghị bài thơ in trên báo Lao động là phạm quy... Nhà thơ Đỗ Bạch Mai thư ký thường trực cuộc thi lúc bấy giờ đã phải gọi tôi lên Hà Nội điều trần những khúc mắc. Nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi thời gian đó chưa biết tôi là ai cũng điện về Thái Bình cho nhà thơ Kim Chuông hỏi về tôi.

Khi chấm xong vòng chung khảo, nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi  thông báo cho tôi biết, trong gần 4 vạn bài thơ dự thi,Thường dân là bài thơ duy nhất được 9/9 phiếu cho giải A. Nhưng Báo Văn nghệ đang cân nhắc có thể phải bỏ phiếu lại vì nhận được nhiều ý kiến gửi đến cho là bài thơ “có vấn đề”. Nhưng các ông Nguyễn Bùi Vợi, Quang Huy, Vũ Quần Phương, Ngô Văn Phú là những người trong ban giám khảo đã phản đối dứt khoát không họp lại. Sau đó, bài thơ Thường dân, Về làng của tôi cùng các chùm thơ của các nhà thơ Bình Nguyên, Kao Sơn đã được trao giải nhất của cuộc thi.

Cũng từ đó,  bài thơ ngày càng được công luận chú ý tới. Tôi còn lưu giữ mấy chục tờ báo, tạp chí giới thiệu về bàiThường dân. Ở Trung ương không chỉ các báo Văn nghệ, Văn nghệ Quân đội, Nhân dân, Lao động, Tiền phong, Thể thao văn hoá, Văn nghệ Công an, Thanh niên... mà cả báo Khoa học đời sống, Tiếng nói Việt Nam, Đất Việt... Báo địa phương thì khắp các miền vùng cả nước như: Phú Thọ, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Lâm Đồng, Văn nghệ Thành phố Hồ chí Minh, Tuổi trẻ TP... Với báo mạng thì không kể hết. Vào Google tìmnguyenlong.thuongdan  là có tới hàng ngàn kết quả. Có vài blog còn dịch cả bài thơ Thường dân sang Anh ngữ. Rất nhiều nhà thơ, nhà báo và các tác giả không chuyên đã  viết lời bình và làm phỏng vấn tôi về bài thơ. Tiêu biểu là các bài của cố nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi, của các nhà thơ Quang Huy, Kim Chuông, Đỗ Trọng Khơi, Nguyễn Hàn Chung... các nhà văn, nhà báo Đức Hậu, Khánh Phương (Báo Thể thao văn hoá), Phùng Nguyên (Báo Tiền Phong), Dư Hồng Quảng (Phú Thọ), Bích Ngân (Báo Tuổi trẻ), Nguyễn Thế Nữu (TC Hồn Việt) , Nguyễn Thế Quang, Vũ Duy Yên... Nhiều báo huyện, báo... xã cũng đăng tải bài thơ. Ngày còn sống, cố nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi có lần gọi cho tôi bảo bàiThường dân đã hoà nhập với thế giới và đi vào mọi ngõ ngách cuộc sống, nó được đăng cả ở tờ nội san Thanh Chương quê huyện nghèo nhà ông.

Được đăng tải như vậy nên Thường dân được rất nhiều người nhớ. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong bài “Viết gì cho hôm nay” kể rằng ông rất ngạc nhiên khi một lần ngồi uống rượu với cựu Bộ trưởng Trương Đình Tuyển, ông này đã đọc thuộc cả bài Thường dân cho mọi người nghe. Các ông quan hàng Tỉnh, hàng huyện, hàng xã ở Thái Bình không mấy người là không thuộc bài thơ. Các ông Nguyễn Nhật Lai, nguyên chủ tịch huyện Hưng Hà, Đặng Tài nguyên chủ tịch huyện Kiến Xương rồi cả ông Nguyễn Hồng Chuyên chủ tịch Hưng Hà bây giờ kể, nhiều lần tiếp dân khiếu kiện các ông đã đem bài Thường dân ra đọc và giảng giải cho họ nghe nên có lần tránh được căng thẳng. Dân nhiều nơi trong nước truyền nhau bài thơ, nhưng phổ biến hơn cả có lẽ là ở Nghệ An và Phú Thọ. Năm 2004 đoàn văn nghệ sỹ Thái Bình có chuyến đi thực tế miền Trung, nhà thơ Lê Thái Sơn, chủ tịch Hội VHNT Nghệ An lúc bấy giờ điện nói nửa đùa nửa thật với nhà văn Đức Hậu là nếu không có tác giả Thường dân đi theo thì Nghệ An sẽ không đón tiếp đoàn Thái Bình. Các anh Chu Vĩnh Phương, Cao Bá Trang và một số người ở câu lạc bộ thơ Nghĩa Đàn đã thuê một xe ô tô ra tận Thái Bình thăm và chụp ảnh chung với tôi. Còn hoạ sỹ Đỗ Ngọc Dũng chủ tịch Hội VHNT Phú Thọ kể rằng một dạo lúc nào trong túi ông cũng có hàng trăm bản photo bài thơ Thường dân để phát cho mọi người. Cụ Tô Tuấn Khải ở câu lạc bộ thơ huyện Kiến Thuỵ, Hải Phòng cũng viết thư cho tôi, bảo cụ đã phải chi tới 300 ngàn đồng tiền lương hưu phô tô bài thơ Thường dân để phân phát cho những ai yêu thích vv và vv...

Cho tới nay tôi đã nhận được hàng trăm bức thư và các bài thơ gửi từ nhiều vùng đất nước bày tỏ sự đồng cảm với bài thơ Thường dân. Có những chuyện cảm động như: ông Nguyễn Thế Phùng ở đài PTTH Thanh Hoá kể ông có ông chú ruột đã ngoài 80 tuổi có 5 con đi bộ đội nay đã trở về làm ruộng. Đọc xong bài Thường dân ông đã khóc và bảo bài thơ đã nói hộ tình cảnh nhà ông. Hay, nhà báo Bích Ngân viết trên báo Tuổi trẻ “…trong chuyến đi thực tế của đoàn Hội nghệ sỹ sân khấu VN tại Tây Nguyên, đạo diễn Nguyễn Văn Bộ, chánh văn phòng Hội người đã tham gia đóng phim Bí thư Tỉnh uỷ, anh có duyên diễn trò làm mọi người cười suốt dọc đường. Nhưng khi đọc bài thơ Thường dân anh lại trang nghiêm như trước đó đứng cúi đầu trước đài tưởng niệm các liệt sỹ đã hy sinh bảo vệ biên giới, khiến cả đoàn lặng đi xúc động. Người thì bấm vội điện thoại ghi âm, người thì yêu cầu đọc lại bài thơ… ”. Còn những chuyện vui thì nhiều. Vui nhất là năm 2004 cố Nhạc sỹ Trần Hoàn về Thái Bình chủ trì một lớp tập huấn. Ông đã đọc bài thơ nên khi gặp, ông gọi tôi là "Thường dân". Có lẽ cũng từ đó mà nhiều người hay lấy tên bài thơ gọi thay tên tôi.

Kể từ khi bài thơ đoạt giải báo Văn nghệ  tính đến nay đã 10 năm. Rất nhiều hiện người vẫn gọi tôi bằng cái tên Thường dân. Và mới gần đây, tháng 10, tháng 11 năm 2012, một số báo như Lâm Đồng, Hồn Việt vẫn tiếp tục giới thiệu thêm những lời bình mới về bài thơ, nhiều trang mạng vẫn liên tục tải bài Thường dân về. Có lẽ nói như chị Bích Ngân, báo Tuổi trẻ, là bài thơ được bạn đọc nuôi dưỡng rồi nó phổng phao cùng với rộng dài cuộc sống. Nên chục năm nay nó vẫn còn âm hưởng trong lòng bạn đọc
                                                                                                                       N.L

 Theo Văn nghệ Trẻ (So 13 - ngay 31/3/2013)


Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

Họa bài thơ Thường Dan


Đến với bài thơ hay: Thường dân

HỌC MỖI NGÀYThường dân là bài thơ hay của Nguyễn Long một dân thường ở Thái Bình. Đây là bài thơ đoạt giải nhất trên bốn vạn bài thơ dự thi thơ lục bát năm 2003. Ngày ấy, người ta chuyền tay nhau bản phôtô để đọc và sau này bài thơ được lưu truyền rất rộng rãi trong dân gian. Tác giảPhùng Nguyên đã có bài viết "Vô tư mấy kiếp mới thành thường dântrên Tiền phong Online ngày 12/4/2010 ở chuyên mục Văn nghệ giới thiệu bài thơ này. Tác giả Nguyễn Long (ảnh dưới) trở thành nhân vật “Hỏi chuyện một người dân” nhưng ông không hề nói về thơ mà lại nói về thường dân nguyên nghĩa. Chị Bùi Thị Bình và chị Phan Thị Thanh Minh cư dân Xóm Lá BlogtiengViet có bài thơ họa "Cỏ may" và "Người"cũng khá thú vị. Xin trân trọng mời bạn nối vần bình và họa bài thơThường dân tuyệt phẩm này. 


(BTB biết được bài thơ vào đầu năm 2004 trong một lớp học VI TÍNH VĂN PHÒNG bởi Giáo viên hướng dẫn đã lấy bài thơ này làm bài tập cho Học viên ...
Khi nghe đọc xong từng câu của THƯỜNG DÂN - Mình đã thật sự xúc động và rất ấn tượng
Rồi mãi bốn năm sau( 2008)... BTB mới trải được lòng mình với THƯỜNG DÂN qua CỎ MAY sau một lần đọc lại...
Xin mạo muội gửi đến các bạn CỎ MAY) 


CỎ MAY 
 
Bùi Thị Bình
Trời sinh ra kiếp cỏ may
Thuỷ chung với đất, tháng ngày bình yên
Không ganh tỵ, chẳng đua chen
Dù cho hơn thiệt, đỏ đen, nỗi niềm…

Không buồn tủi, chẳng ưu phiền
Nhẹ nhàng, êm ái, dịu hiền, thẳm xanh
Mặc lòng thôi, cứ chân thành
Giản đơn, âu yếm, nghĩa tình: Cỏ may.


Bình minh ngắm áng mây bay
Hoàng hôn nghe tiếng thở dài nhân gian
Dẫu mưa nắng vẫn không tàn
Kiếp sau xin được lại làm cỏ may!

http://buithibinh.blogtiengviet.net


Phan Thị Thanh Minh: Được một người bạn đên chơi đọc nghe bài Thường dân của Nguyễn Long cách mấy năm chị cũng học viết được bài này, góp đồng cảm với Cỏ may của Bùi Thị Bình nha:

NGƯỜI

Phan Thị Thanh Minh
Rằng đông thì thật là đông
Rất nhiều dáng mặt mà không thấy thừa
Càng gần ai cũng thấy ưa
Cả đời kề cạnh vẫn chưa muốn rời


Mưa dưới đất, bão trên trời
Cùng nhau chống đỡ bao thời loạn ly
Gian nan, chìm nổi quản chi
Sao cho vui vẻ, kể gì thiệt hơn


Dẫu nghèo, tình vẫn thảo thơm
Mong nhau ấm áo, no cơm thỏa lòng
Dẫu nắng hè, dẫu mưa đông
Đầu trần, chân đất vẫn không quên người


Hòa bình, chinh chiến bao thời
Ngã rồi đứng dậy...đẹp đời thường dân.

thanhminhhn.blogtiengviet.net

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2013

Ông cựu chủ tịch huyện và đội chèo làng


Ông cựu chủ tịch huyện và đội chèo làng


Thời còn đương chức, chủ tịch UBND huyện Hưng Hà (Thái Bình) Nguyễn Nhật Lai được dân rất quý vì tính cởi mở, trung thực và thẳng thắn. Chính nhờ những đức tính ấy mà nhiều vụ khiếu kiện căng thẳng đã được ông “hóa giải” một cách thỏa đáng, hợp lý hợp tình.
Đến nay, nhiều người dân xã Bình Lăng trong huyện vẫn nhắc đến ông. Dạo ấy, một số người dân xã này tổ chức khiếu kiện tập thể về chuyện đất đai rất quyết liệt, kéo lên cả cổng UBND tỉnh đứng suốt mấy ngày rồi lại về huyện. Ông Lai ra tiếp đoàn khiếu kiện ấy. Rất bình tĩnh và từ tốn, ông nghe yêu cầu của bà con rồi trao đổi và tâm tình với họ. Đang nói thì một người dân đứng bật dậy, gay gắt:
- Chúng tôi chỉ là những người dân thường, còn ông là quan chức, ông nói xuôi nói ngược thế nào mà chẳng được.
Ông Lai ôn tồn:
- Tôi vốn là thường dân, đi đánh giặc về, được nhân dân giao nhiệm vụ nên phải gánh vác. Chẳng mấy năm nữa, tôi lại thành thường dân như bà con thôi. Cán bộ là tạm thời, thường dân mới là vĩnh cửu…
Rồi ông đọc thơ về thường dân cho bà con nghe. Bài thơ "Thường dân" của Nguyễn Long (Đông thì chat, ít thì thưa/ Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân/ Quanh năm chân đất đầu trần/ Khát khao sau những vũ vần bão dông/ Khi là cây mác, cây chông/ Khi thành biển cả, khi không là gì/ Thấp cao đâu có làm chi/ Ngàn năm, cỏ vẫn xanh rì cỏ thôi/ Ăn của đất, uống của trời/ Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin/ Ồn ào mà vẫn lặng im/ Mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn/ Chỉ mong ấm áo no cơm/ Chắt chiu dành dụm, thảo thơm ngọt lành/ Hòa vào trời đất mà xanh/ Vô tư mấy kiếp, mới thành thường dân) được ông đọc bằng một giọng rất chân thành, truyền cảm, khiến nhiều người xúc động. Không khí dịu hẳn đi, nhiều người dân, từ thái độ rất bức xúc bỗng hóa cởi mở, cũng trình bày nguyện vọng với ông bằng giọng tâm tình, và cuối cùng thì bà con vui vẻ ra về, cuộc khiếu kiện kết thúc.

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2013

Bài thơ đọc trên đường đi


10.7.2011-21:30
Đoàn dừng lại bên cột mốc biên giới (sát cửa khẩu Lệ Thanh, tỉnh Gia Lai)

Bài thơ đọc trên đường đi
BÍCH NGÂN

NVTPHCM-Quả là có những bài thơ được thai nghén rồi ra đời, được người đọc dưỡng nuôi, rồi phổng phao cao lớn cùng với rộng dài cuộc sống”.

Đoàn tác giả Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam vừa đi thực tế ở các tỉnh Tây nguyên suốt 13 ngày đêm. Trên những chặng đường, nhiều chặng phải sang xe nhà binh để vượt qua được những đoạn đường lầy lội đến với các chiến sĩ biên phòng đang bảo vệ từng tấc đất Tổ quốc ở những nơi heo hút núi rừng.
Để đường dài ngắn lại, nhiều tác giả, đạo diễn tự nguyện trổ tài kể chuyện cười, chuyện tiếu lâm, nhại giọng, nhại điệu bộ...Người góp nhiều “trò” nhất là đạo diễn Nguyễn Văn Bộ - chánh văn phòng Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam - người tham gia đoàn với vai trò trưởng ban tổ chức.
Gần đây anh Bộ vào vai Bao, một nhân vật mà theo nhận xét vui của thiếu tá Phạm Huy Thành, đồn trưởng đồn biên phòng 775 (thuộc tỉnh Đắk Nông), là “làm đúng ý Đảng nhưng chưa hợp lòng dân”, nhân vật luôn tìm mọi cách gây khó cho bí thư tỉnh ủy Hoàng Kim trong phim truyền hình Bí thư tỉnh ủy. Vai diễn của anh gây được ấn tượng nên đi đến đâu anh cũng bị khán giả xem đài chỉ tên, nhận mặt. Cái duyên diễn trò của anh Bộ khiến anh chị em cả xe cười nghiêng ngả.
Nhà văn Bích Ngân tặng sách cho bộ đội biên phòng

Nhưng khi anh Bộ đọc thơ, những bài thơ không để gây cười thì lại khiến mọi người lặng im. Xúc động là bài thơ Thường dân anh Bộ trang nghiêm đọc - trang nghiêm như trước đó không lâu anh cùng đoàn đứng cúi đầu trước đài tưởng niệm những chiến sĩ hi sinh bảo vệ biên cương Tổ quốc. Người bấm vội điện thoại ghi âm. Người đề nghị được nghe lại. Giọng ấm, vang, anh Bộ lại đọc:
Đông thì chật, ít thì thưa
Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân
Quanh năm chân đất đầu trần
Tác tao sau những vũ vần bão dông
...
Ồn ào mà vẫn lặng im,
Mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn.
Chỉ mong ấm áo no cơm,
Chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành.
Hòa vào trời đất mà xanh,
Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân”.
Lạ là người diễn đọc thật xúc động những câu thơ trên dường như cũng không rõ tác giả của bài thơ. Hay bài thơ dễ nhớ, dễ thuộc, dễ đi vào lòng đến nỗi tác giả của nó không còn là điều đáng bận tâm, đã vô tư thành niềm vui, thành nỗi buồn nhân thế, tất cả như đã “hòa vào trời đất mà xanh”?
Tuy vậy, tò mò tôi vào Google gõ. Thì ra Thường dân là bài thơ từng đoạt giải nhất cuộc thi thơ lục bát của báo Văn Nghệ Trẻ từ năm 2003. Tác giả là Nguyễn Long, hội viên Hội VHNT tỉnh Thái Bình.
Quả là có những bài thơ được thai nghén rồi ra đời, được người đọc dưỡng nuôi, rồi phổng phao cao lớn cùng với rộng dài cuộc sống.
Chuyến đi thực tế của giới sân khấu được biết thêm những câu thơ chạm được vào lòng người như thế cũng là biết thêm một thực tế không dễ gì nắm bắt...

Thứ Năm, 29 tháng 11, 2012

ẨN NGHĨA TRONG BÀI THƠ THƯỜNG DÂN


Phạm Hoài Ngọc hiện là hiệu trưởng trường THPT Nam Duyên Hà (huyện Duyên Hà, Thái Bình) vừa là người yêu thơ vừa sáng tác thơ, trên tạp chí Văn nghệ Thái Bình số tháng 10/2012 có giới thiệu một chùm thơ ba bài mới sáng tác của Ngọc. Vừa mới đây Ngọc gửi cho tôi bài viết về thơ Thường dân kèm theo thư sau:
           
Kính gửi: Anh Nguyễn Long
Bài thơ Thường dân, nhiều người đã khen và bình xác đáng và hay. Nhưng em cũng xin kể anh nghe: trong buổi liên hoan văn nghệ của một khóa học của cán bộ quản lý ngành giáo dục: gồm Hiêụ Trưởng trường THPT, trưởng khoa, viện trưởng Đại hoc...thì đã có người đọc bài Thường dân của anh và cả hội trường vỗ tay đấy.
Em cũng gửi tới anh một cảm nhận và suy nghĩ của em khi đọc bài thơ này. Chào anh, chúc anh mạnh khỏe. Em Ngọc.

Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012

THÊM MỘT TỜ BÁO GIỚI THIỆU BÀI THƠ THƯỜNG DÂN

Bài thơ: Thường dân - Tg: Nguyễn Long


NDK: Vừa rồi đi dự Hội nghị tổng kết năm học 2011-2012, ngồi ăn cơm cùng các Bác các chú trong ngành giáo dục, được Bác Thịnh - Nguyên trưởng phòng giáo dục Thành phố kể và đọc cho cả bàn nghe về bài thơ: "Thường dân" "của một anh nông dân tên là Nguyễn Long người Thái Bình" không phải ai cũng thích thơ nhưng nghe qua thì ai cũng thấy thú vị về những cầu thơ ý nghĩa trong bài, đặc biệt là những câu mở đầu và kết bài. Xin được sưu tầm và chia sẻ cùng các bạn thưởng thức.

Bài thơ này đã được trao giải A trong cuộc thi thơ lục bát của báo Văn nghệ trẻ. Ngôn từ, hình ảnh giản dị, quen thuộc mà sức khái quát lớn, như một nhà văn đồng hương Thái Bình của tác giả bình bài thơ này đã viết: Thường dân chính là NHÂN DÂN. Vâng, NHÂN DÂN xứng đáng được ngợi ca hơn tất thảy, và chỉ nhân dân mới có thể "hòa vào trời đất mà xanh"...


Thường dân

Thứ Ba, 18 tháng 9, 2012

TẠP CHÍ HỒN VIỆT GIỚI THIỆU BÀI THƠ THƯỜNG DÂN


Bài thơ "Thường dân"

Nguyễn Thế Nữu

Hình ảnh của Bài thơ "Thường dân"
THƯỜNG DÂN
Nhiều thì đông, ít thì thưa,
Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân.
Quanh năm chân đất đầu trần,
Tát tao với những xoay vần bão dông.
Khi làm cây mác, cây chông,
Khi thành biển cả, khi không là gì.
Thấp cao đâu có làm chi,
Nghìn năm cỏ vẫn xanh rì cỏ thôi!

Ăn của đất, uống của trời,
Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin.
Ồn ào mà vẫn lặng im,
Mặc ai buôn nổi bán chìm thiệt hơn.
Chỉ mong ấm áo no cơm,
Chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành.
Hòa vào trời đất mà xanh,
Phải tu mấy kiếp mới thành thường dân.
Nguyễn Long (Thái Bình)
Người nông dân sống trên mảnh đất hình chữ S đầy khó khăn khắc nghiệt, đã phải đời đời kiếp kiếp, chân đất đầu trần hiên ngang với tư thế đội trời đạp đất, chống lại thiên tai và cường quyền áp bức, thay đổi bao nhiêu triều đại, để giữ cuộc sống yên lành không ngừng phát triển đi lên.
Người nông dân, ăn của đất, uống của trời, tự lao động nuôi mình, và xây dựng sáng tạo cuộc sống tốt đẹp cho mình, sẵn sàng bảo vệ các triều đại giàu mạnh biết vì nước vì dân, nhưng cũng sẵn sàng xóa bỏ những triều đại đã thối nát, đi vào đường hại dân hại nước. Nông dân là động lực cơ bản đã thúc đẩy đất nước ta phát triển qua mấy nghìn năm lịch sử vẻ vang, tích lũy được những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, đã giữ được truyền thống giữ nước và dựng nước.

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung bình bài thơ THƯỜNG DÂN


LỜI BÌNH CỦA NT NGUYỄN HÀN CHUNG (Quảng Nam)

          Thường dân là một trong số những bài thơ đoạt giải A cuộc thi thơ lục bát báo Văn nghệ năm 2003. Nhà thơ Vũ Quần Phương cho rằng: Bài thơ Thường dân ca ngợi trong giọng điệu chất chứa đòi lại lẽ công bằng cho người lao động. Ý thơ không mới, nhưng tác giả có những câu thơ chững chạc, khái quát cao có sức ám ảnh người đọc.
          Đông thì chật, ít thì thưa/ chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân. Trong hai câu thơ đầu tác giả đã chưng cất một chút đắng thoảng qua trong vị ngọt ngôn từ, chỉ những ai rất mực thường dân mới đồng cảm được. Sau đó tác giả nêu hàng loạt những phẩm chất: chân đất đầu trần, cây mác cây chông, xanh rì, dốc lòng cởi dạ, ồn ào mà vẫn lặng im...khắc hoạ vẻ đẹp thuần khiết của những con người.
          Thấp cao đâu có làm chi/ cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi. Tôi nghĩ rằng những chi tiết tác giả khái quát và cho đấy là phẩm chất của thường dân thì hơi quá chung. Những đặc điểm ấy là của người nông dân chính hiệu chứ thường dân mà không là nông dân chắc gì có được.

LỜI BÌNH CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN PHƯƠNG THOAN


MỘT BÀI THƠ
HÀM CHỨA TRIẾT LÝ NHÂN VĂN SÂU SẮC

                             Lời bình của tác giả NGUYỄN PHƯƠNG THOAN (Nghệ An)

          Trước hết phải nói là khen cho con mắt tinh đời của Báo Văn nghệ khi trao giải Nhất cuộc thi thơ lục bát năm 2003 cho bài thơ Thường dân của Nguyễn Long (Thái Bình), một bài thơ hàm chứa triết lý nhân văn sâu sắc.
          Lấy đề tài thường dân, lại thể hiện bằng thơ lục bát, những cái mới liếc qua tưởng như biết rồi, khổ lắm, nói mãi, vậy mà bằng cảm xúc và cách nhìn, cách nghĩ thật sự thấu đáo thế thái nhân tình nên đã làm cho thi phẩm này lập tức dành được sự mến mộ của người đọc gần xa. Không chữ nghĩa cao xa “dân vi quý...” (Mạnh Tử), lại càng không hô hào chung chung (kiểu lấy dân làm gốc), mà chỉ là: Đông thì chật/ ít thì thưa/ chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân. Đúng lắm thay! đã là kiếp thường dân thì dù ở bất cứ phương trời nào cũng phải bươn đất, lật cỏ mà sống, chứ chẳng bấu bám, và nhất là chẳng tranh đoạt được chút gì của ai. Không những thế mồ hôi và nước mắt của người thường dân không chỉ để tay làm hàm nhai cho riêng mình mà còn phải để dành một phần không nhỏ đóng góp cho sự tồn tại của xã hội, nên đời nào, kiếp nào cũng thấy thiếu chứ nào có thừa thường dân. Với những từ chật, thưa, dư thừa trong hai câu thơ trên thoạt nghe có vẻ hài hước, trào lộng, nhưng ngẫm kỹ mới thấy nó hàm chứa một điều gì đó thật chua chát, phũ phàng, bởi thân phận tầm thường của tầng lớp thường dân như thể con ong cái kiến.

Thứ Ba, 31 tháng 7, 2012

LỜI BÌNH CỦA TÁC GIẢ NGUYỄN THẾ QUANG


VẺ ĐẸP CỦA THƯỜNG DÂN

Lời bình của NGUYỄN THẾ QUANG (Nghệ An)
                                     
          Tám cặp lục bát, mười sáu dòng thơ giản dị mà sao cứ ám ảnh mãi người đọc về bức chân dung Thường dân rất quen mà lừng lững diệu kỳ.
          Đông thì chât/ ít thì thưa. Bao giờ sự hiện diện của họ cũng có ý nghĩa đối với cuộc đời. Nguyễn Long dùng hàng loạt hình ảnh vừa rất cụ thể, vừa có sức khái quát lớn: Khi làm cây mác cây chông/ khi thành biển cả, khi không là gì. Cây mác cây chông giữ yên bờ cõi, biển cả. Để tạo sự vững yên, tốt lành cho xã tắc, thường dân bao giờ cũng có vai trò quyết định trong những biến động của lịch sử. Nguyễn Long khéo tổ chức những hình ảnh quen thuộc mở ra một trường nghĩa lớn. Nhiều người đã dùng hình ảnh cỏ để chỉ những thân phận bình thường nhỏ nhoi, Nguyễn Long vẫn dùng hình ảnh đó, nhưng có một ý tưởng, một phát hiện mới: Thấp cao đâu có làm chi/ cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi. Trong hành trình dằng dặc của nhân loại, bao kẻ không còn là thường dân lao vào cuộc tranh chấp, giành giật thấp cao, danh vọng, quyền lực, làm biến đổi bao thành quách, tiêu ma bao triều đại, gây lên bao tội ác, biến đổi con người, còn thường dân cỏ vẫn xanh rì cỏ - màu xanh cốt cách không phai nhạt, không thay đổi, không lẫn lộn với màu sắc nào khác.

NHÀ VĂN ĐỨC HẬU BÌNH BÀI THƠ THƯỜNG DÂN


THƯỜNG DÂN QUA LĂNG KÍNH LỊCH SỬ, XÃ HỘI

                                                                            Nhà văn Đức Hậu

          Tôi đọc được bài thơ Thường dân của Nguyễn Long khi mới in trên tờ báo của địa phương, và đã ngồi lặng hồi lâu trước trang báo. Sau đó tôi gặp ngay tác giả để nói sự xúc động sâu sắc của mình. Như có một từ trường huyền bí, âm hưởng của bài thơ lan truyền rất nhanh trong công chúng trước khi nó được trao tặng giải A cuộc thi Thơ lục bát của báo Văn nghệ Trẻ.
Do sự cởi mở thái quá về xuất bản trong những năm qua, hàng ngày đọc giả như chìm ngập trong thác lũ thơ, không ít người đã lãnh cảm với thơ và thờ với sự lựa chọn giá trị thơ. Trong bối cảnh đó, Thường dân đi vào lòng người một cách lặng lẽ và ở luôn trong đó như một sự bình dị và thân thiết. Đã có nhiều bài của các nhà thơ, nhà phê bình phân tích, bình luận bài thơ này. Tuy nhiên cũng như các tác phẩm thành công khác, phần nghĩa rộng của bài thơ còn ít được phân tích để thấy hết tính đa tầng về ý nghĩa của tác phẩm.

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2012

NHÀ THƠ ĐỖ TRỌNG KHƠI BÌNH BÀI THƠ THƯỜNG DÂN


THƯỜNG DÂN CUỘC HOÁ THÂN NHẬP PHẬN

          Lời bình của ĐỖ TRỌNG KHƠI:

         Bài thơ có 4 khổ, chia theo thể lục bát được 8 cặp. Chỉ với từng ấy câu chữ, như Thường dân mang trong nó một dung lượng không nhỏ.
         Đông thì chật, ít thì thưa/ Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân… Cặp lục bát số 1 này xuất hiện có tính chất xác định vị trí, thì đến cặp số 8 kết bài: Hoà vào trời đất mà xanh/ Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân, thì vị trí của lớp người thường dân đã trở nên một vị thế cao đẹp, đáng tôn vinh. Và điểm mở của tư tưởng thơ hé lộ ngay ở câu bát đầu bài, qua hai chữ “dư thừa”. Có một nguyên tắc căn bản trong đời sống, là tính nhị phân, đa thành phần. Khi đã xác định về cái gì đó là đẹp tất có cái đối chứng, so sánh với nó là cái xấu.vv… Ở trường hợp thơ này, khi tác giả đã viết “chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân” hẳn có nghĩa lớp thường dân “chẳng dư thừa” ở đây đã được cân nhắc so sánh với một lớp người nào đó đang “bị dư thừa”. Phải chăng guồng máy cán bộ công chức nhà nước nhiều phen phải “giảm biên” đã cho tác giả so sánh này? Thường dân – vốn là một tầng lớp được ví với cỏ: Ngàn năm cỏ vẫn xanh rì cỏ thôi, tưởng đã rộng khắp đến  cơ man, thừa thãi mà tình cảm, tư tưởng thơ lại đưa ra nhận xét là “không – dư – thừa”, quả đây là một minh định, một phát giác mang tính nhân bản sâu sắc. Và nữa, dùng cụm từ “không dư thừa” làm điểm quy chiếu, soi chiếu tới câu thơ thứ 12 sẽ cho nhận diện rõ hơn bản chất một lớp người, loại người khác phẩm chất: Mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn. Và đặc biệt ở câu thứ 3, với ba chữ “tác tao sau”: Tác tao sau những vũ vần bão giông. Sau bão giông là mưa đền cây. Luật tư nhiên, tình cảm thiên nhiên là thế, vậy mà với “quy luật xã hội con người” trong cảnh thơ này thì khác. Đã có một sai biệt lớn xẩy ra

Thứ Ba, 24 tháng 7, 2012

CỐ NHÀ THƠ NGUYỄN BÙI VỢI BÌNH BÀI THƠ THƯỜNG DÂN


LỜI BÌNH BÀI THƠ THƯỜNG DÂN
CỦA CỐ NHÀ THO NGUYỄN BÙI VỢI:

          Tôi có quen dăm Nhà thơ và vài chục người làm thơ ở Thái Bình nhưng không biết Nguyễn Long là ai mà viết được bài thơ... đáo để thế này. Bài thơ nói về thân phận và cốt cách của người thường dân.
          Hai câu mở đầu rất chính xác, thông minh và hóm: Đông thì chật, ít thì thưa/ chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân. Cán bộ, công nhân viên trong cơ quan nhà nước thì còn có lúc thiếu, lúc thừa. Thiếu thì tuyển thêm, thừa thì giảm biên, định biên, còn cái anh thường dân thì chẳng bao giờ thừa! Đông nhất trong đám thường dân ấy là nông dân: Quanh năm chân đát đầu trần/ tác tao sau những vũ vần bão giông/ khi làm cây mác cây chông/ khi thành biển cả, khi không là gì. Tác tao là một từ dùng ép. Tác giả muốn nói ý tao tác nhưng dùng chữ tao tác thì thanh điệu của câu thơ hỏng hẳn, nhưng bỏ hình thức để giữ lấy một nội dung thật chính xác: Khi làm cây mác, cây chông/ khi thành biển cả, khi không là gì.

CÁC NHÀ THƠ NHẬN XÉT VỀ BÀI THƯỜNG DÂN


MỘT SỐ NHẬN XÉT CỦA CÁC NHÀ THƠ VỀ THƠ THƯỜNG DÂN CỦA NGUYỄN LONG

Nhà thơ Vũ Quần Phương:

Thơ Nguyễn Long bộc lộ một cảm xúc sâu nặng với người dân quê vất vả lam lũ, những người làm nhiều hưởng ít. Bài thơ Thường dân ca ngợi trong giọng chất chứa đòi lại lẽ công bằng cho người lao động. Ý thơ không mới, nhưng tác giả đã có những câu thơ chững chạc, khái quát cao, có sức ám ảnh: Khi làm cây mác cây chông/ khi thành biển cả, khi không là gì/ thấp cao đâu có làm chi/ cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi...
Làng là nền tảng cảm xúc cho thơ lục bát của Nguyễn Long. Rõ ràng là thể thơ của ca dao đã ảnh hưởng tới hướng chọn đề tài, thậm chí đến điệu tâm hồn người viết. Làng mang vẻ đẹp ngàn đời. Đẹp trong cảnh vật: Đêm ngồi với bạn dưới cây/ vườn làng trăng rắc bạc đầy lối đi. Đẹp trong tình người: Trăm lần triết lý nông sâu/ để ta về lại với câu thật thà. Với Nguyễn Long, làng đã trở thành chuẩn chân lý và người nhà quê mang vẻ đẹp thuần khiết, trong trẻo có sức làm tươi lại, ngây thơ lại những hồn người héo úa cằn cỗi sau những bươn chải giành giật ở đời.
Thơ lục bát Nguyễn Long đã vận dụng thuần thục thế mạnh của bút pháp cổ điển mà hiện nay chúng ta vẫn đang dùng.

                                      (Báo Văn nghệ Trẻ số 24 ngày 15/6/3003)



Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu:
         
Nguyễn Long đoạt giải A cuộc thi thơ lục bát của Tuần báo Văn nghệ năm 2003.
          Có nhiều người làm thơ lục bát nhưng Nguyễn Long đã tạo cho mình một dòng chảy riêng không lẫn với người khác. Dòng chảy ấy khởi nguồn từ mảnh đất làng quê thuần phác, đôn hậu. Tác giả có nhiều bài nói về làng quê với nhiều góc độ khác nhau như: Làng tôi ở phía dòng sông, Về làng, Làng vào vụ gặt, Kiếp làng, Gọi làng, Ở làng Vũ Đại bây giờ... Tác giả viết về đất quê, người quê với bao nhiêu cảnh ngộ chìm nổi vui buồn.
          Có thể dẫn chứng được nhiều câu thơ hay trong tập thơ Thường dân của Nguyễn Long. Tác giả khắc hoạ hình ảnh người thím đơn côi sống quanh quẩn trong làng quê nghèo khó, chỉ đến khi từ giã cõi đời mới được thanh thản siêu thoát: Khổ đau à, khổ đau ơi/ cất xong một gánh phận đời nhẹ tênh/ cầu vồng bảy sắc chênh vênh/ mây giăng chín nhịp gập gềnh thím qua....
          Thơ lục bát của Nguyễn Long có tả, có truyện. Khi tả Nguyễn Long biết chắt lọc, đôi khi chỉ là một nét chấm phá rất gợi mà lồng được tâm trạng riêng. Truyện trong thơ Nguyễn Long thường đi vào cảnh ngộ thân phận nên dễ xúc động lòng người. Có nhiều câu thơ lục bát của Nguyễn Long tưởng như quen thuộc, đơn giản trong nhịp điệu, dễ đọc, dễ hiểu, nhưng thật khó viết. Bởi không sống gắn bó với làng quê, không có hồn quê, chất quê thì không thể có cái nhìn chân thực vừa giầu sức khái quát đến ngần ấy.

                                                (Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 586, tháng 11/2003)


         

Nhà thơ Ngô Văn Phú:

          Thể hiện những con người bình dân, những cảnh đời bình thường nhưng thơ Nguyễn Long đã không bị cái véo von truyền thống, sự dàn trải thường mắc khi làm thơ lục bát. Anh đã tìm được những ý tưởng sâu sắc cho đề tài và bởi cảm xúc mạnh chứa chất từ lâu nên có những bài thơ hay, những câu thơ bỏ bùa mê cho bạn đọc...

           (Văn nghệ Trẻ số 17+18 ngày 27/4/2003)



Nhà thơ Đỗ Bạch Mai:
         
          Tập thơ Thường dân chỉ với 25 bài thơ thôi nhưng đủ để bạn đọc nhận ra giọng thơ riêng của Nguyễn Long, một giọng thơ da diết những âm hưởng dân ca nhưng vang sâu vào lòng người. Có thể nói thơ Nguyễn Long đã góp vào nét mới cho thơ lục bát ở ngôn từ gần gũi, mênh mông mà chứa nhiều hơi thở của cuộc sống...

                                                (Văn nghệ Trẻ số 42, ngày19/10/2003)


Nhà thơ Kim Chuông:


          Thơ lục bát Nguyễn Long là nét vượt trội của khả năng khai thác những câu chuyện bình dị, những thân phận gần gũi mà da diết vang sâu.
Với thể thơ dân tộc quen cũ, dễ sáo mòn, thơ lục bát Nguyễn Long đã góp vào nét mới ở ngôn ngữ, hình ảnh dư vang được lặn chìm loang thấm trước thân phận đời người, trước nhân tình thế thái...

                                     (Tạp chí Nghề báo số 3/2003)








Tran Tam (Quang Ninh)

Tôi đã có dịp ngồi chuyện trò với Nguyễn Long. Thú thật, trước đó tôi chưa nghe nhiều về ông. Cầm tập thơ của Nguyễn Long tặng về đọc, tôi chú ý ngay bài thơ này và cả những bài thơ lục bát của ông trong tập. Tôi cho rằng những bài thơ lục bát của Nguyễn Long đứng song hành với những bài thơ lục bát nổi tiếng của nền văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới. Từ bấy đến nay hơn chục năm rồi, tôi chưa có dịp gặp lại ông!


MINH PHÚC
VIỆT NAM LỤC BÁT NĂM NHÀ 

Truyện Kiều giở đọc mỗi khi
Chao ôi, Cụ Nguyễn lâm ly thế này
Say lại đọc, đọc càng say
Đời người - bể khổ - đất dày - trời cao!

Tản Đà - Non Nước kết giao
Nước Non ta mãi non cao nước còn
Ngàn năm chớp bể mưa nguồn
Nước Non ta mãi nước còn non cao.

Nguyễn Bính - Hoa thắm rượu đào
Hồn quê bướm trắng bay vào giấc mơ…

Nguyễn Duy - Đất sỏi cằn khô
Rễ siêng tre tự bao giờ vẫn xanh     
Yêu nòi tre dựng luỹ thành
Yêu quê bám giữ đất lành cha ông.

Nguyễn Long, muôn triệu tấm lòng
Thường dân  là mỗi ta trong cộng đồng
Khi làm cây mác, cây chông
Khi thành biển cả, khi không là gì!
                         *
Ngàn năm rồi sẽ qua đi
Những thiên tuyệt bút vẫn vì Nước Non
Năm nhà lục bát mãi còn
Sáng sông núi Việt, ngọt nguồn thơ ca...
                                                         Hà Nội, 2-10-2010
Thơ Minh Phúc trên trangan.com