Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn bút ký. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bút ký. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2020

MỘT SỐ BÀI KÝ TIÊU BIỂU CỦA NGUYỄN HỒNG LAM

Nguyễn Hồng Lam
 

Tên thật Nguyễn Đức Vinh,

 Sinh năm Nhâm Tý, 1972, tháng Quý Xuân, tại Trung Lễ, Đức Thọ, Hà Tĩnh

Quế  quán: Thạch Kim, Thạch Hà, Hà Tĩnh.Tốt nghiệp ĐHTH TP HCM, khoa Ngữ Văn, năm 1993. Nhà báo. Nhá văn, Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh. Hiện làm việc tại báo An Ninh Thế giới.

Tác phẩm đã xuất bản:

- Phục Thiện, truyện ngắn, 1996

- Đường đời trong lòng tay, Truyện ký, 1998

- Người Sài Gòn đánh Mỹ, 1999

- Chiếc cầu có đám ma đi qua, truyện ngắn, 2000

- Người của giang hồ, 2004, 2006

- Vụ án Đồi Hoa Mai, 2005

và  một số sách in  chung khác...

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016

ĐỌC LẠI MỘT BÀI KÝ

Phùng Gia Lộc:
Cái đêm hôm ấy... đêm gì? 

(đăng trên báo Văn Nghệ, năm 1987)
.
Tác giả Phùng Gia Lộc, tháng 6-1988 - Ảnh tư liệu
Cuối năm 1983, tôi được ở nhà chờ quyết định về nghỉ chế độ. Chiều chủ nhật, thằng Học con tôi rủ rỉ nói:

- Con bắt được bác Quang ăn bánh cuốn ở hàng anh Minh. Bác đi thồ sắn ở chợ Phúc Địa về. Bác cho mấy bó nhưng con không lấy. Bác dặn con về đừng nói với bố mẹ là đã gặp bác. Nói, hôm nào sang bác đánh chết.

- Hừ! Lại thế nữa...

Tôi buột miệng bảo với con thế, rồi thừ ra. Bạn bè anh em cùng một phòng với nhau mà đi qua không vào. Có điều gì nhỉ?

Sáng thứ hai tôi sang cơ quan ứng mấy cân gạo và định bụng sẽ gặp, trút sấm sét lên đầu anh ấy. Nghe tôi trách, Lê Trung Quang, trưởng phòng tổ chức Ủy ban huyện Thọ Xuân, cười hà hà làm lành thật đôn hậu, dễ yêu:

- Giá có một mình thì tôi vào. Đằng này những bốn binh, khao được, anh cũng liệt. Vả lại, bốn cái xe nặng è, sợ tối.

Là trưởng phòng tổ chức ủy ban huyện, anh cũng để gia đình vợ con đói thiếu. Ra anh còn kém cỏi hơn cả tôi, một kẻ chân chim trần trụi, một tay sắp trở thành "phó thường dân". "Nhà mình cũng bí. Nộp sản đi rồi, lúa đã cạn. Khó mà ăn thấu tết được". Quang lắc đầu bảo thế. 

Chủ Nhật, 27 tháng 12, 2015

LÀNG PHỐ

Nhà thơ Trần Đăng Khoa

Ngay cái tên đã nhập nhằng rồi. Làng phố. Làng là làng. Mà phố là phố. Làng ở thôn quê. Còn phố nơi phồn hoa đô thị. Đấy là hai vùng địa giới, hai miền văn hóa hoàn toàn riêng biệt. Bây giờ, trong công cuộc đổi mới, đời sống cũng bắt đầu xuất hiện nhiều vẻ đẹp mới. Lại còn có cả những vẻ đẹp của sự nhập nhằng. 

Ấy là cái làng quê của tôi.

Cách đây chỉ chừng trên chục năm thôi, làng tôi dù không cách sông cách đò, nhưng vẫn có cảm giác như nó rất hẻo lánh, cô lẻ như một ốc đảo, dù không xa Hà Nội bao nhiêu, nếu tính theo đường chim bay. Ngày mưa, đường quê lụt lội. Làng có đám cưới, người ta phải dùng trâu để đón cô dâu. Bây giờ, cái làng heo hút ấy đã hoá thành đô thị rồi. Đường làng đổ bê-tông. Đêm đêm, những bờ tre, khóm chuối bỗng mỡ màng, óng nuột trong ánh sáng của những ngọn đèn đường. Làng đã có karaoke. Rồi cơm bụi. Rồi dịch vụ cưới xin. Rồi khách sạn, nhà nghỉ cao tầng lấp ló sau những gốc sung, bụi duối. Trống, nhạc xập xình. Những gì thành phố có thì ở cái xó làng này cũng có. Các cô thợ cấy, các bà chăn lợn giờ cũng phấn son, váy áo loè xoè. Ông bạn tôi, một cựu chiến binh lắc đầu ngán ngẩm: “Mình chẳng phải thằng ham hố gì đâu, nhưng nhiều lúc cũng chỉ muốn thành một lão có chức sắc thật to, để làm gì cậu hiểu không? Để ký một sắc lệnh: Cấm tất cả các em chân cẳng khùng khoèo, đen nhẻm …không được mặc váy ngắn!”. 

Nhà quê và về quê

Nhà quê và về quê
Phạm Quang Long

Là trai nông thôn, học xong làm việc ở thành thị, lấy vợ là người Hà Nội, công việc, con cái ổn cả, nhà cửa chẳng sang trọng gì nhưng cũng đủ để sống một cuộc sống yên ổn mà sao những suy nghĩ về quê cứ luôn thấp thỏm trong tôi?

Trước đây, thỉnh thoảng vợ và con vẫn đùa: "bố nhà quê lắm". Tôi hiểu, đó như một lời chê. Thì tôi vốn là người nhà quê, không quê sao được?.Dù xa quê đã lâu và thực sự, tôi đã là một tay nhà quê mất gốc nhưng cái chất quê, kiểu quê nó lặn vào máu tự bao giờ. Ẩn kín đến đâu rồi cũng có lúc cũng bật ra, gây khó chịu cho người khác bởi cái sự thiếu văn minh của mình.

Ngày làm ở sở Văn hoá ở Hà Nội, tôi cứ nói đùa với các bạn là tôi đang " lấy nông thôn bao vây thành thị", đang " nhà quê hoá" đất kinh kỳ. Chả biết mình đã làm hỏng và phá đất thần kinh những gì do ngu dốt, kém cỏi...nhưng phải nói rằng chính những ngày này tôi mới có dịp nhận ra nhiều cái " nhà quê" vẫn đang tiềm ẩn nơi thị thành, đang làm cho nơi đây giầu có thêm lên. Đi sâu vào các khu phố cổ, lật những lớp bao phủ bên ngoài, nhìn sâu hơn vào phía sau tôi nhận thấy rất nhiều chất " nhà quê" của dân tứ chiếng đã góp phần tạo nên mảnh đất kinh kỳ này. Và, ẩn sau những lớp bụi thời gian, bụi " kinh thành", cứ lấp lánh nét đẹp của những người nhà quê thuộc nhiều thế hệ khác nhau đã cùng góp sức lực, trí tuệ tâm huyết ( cả tài sản và sinh mạng của mình nữa) cho vùng đất mới mà họ đã chọn làm nơi lập nghiệp của mình.

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2013

NGƯỜI ĐẢNG VIÊN XUỐNG TÓC

Ký của NGUYỄN LONG

               
Là một Đảng viên được kết nạp và phát triển trong quân đội nhưng con đường binh nghiệp lại không thuận thàng với chàng thanh niên Hoà vốn yêu đạo Phật từ nhỏ. Xuống tóc rồi phải bỏ sinh hoạt Đảng nhưng cái chất Đảng viên và cái tác phong miệng nói tay làm đã thành cách sống của sư Hoà khi sống ở nơi cửa Phật. Hiện nay Đại đức Thích Thanh Hoà đã là Trưởng ban trị sự, chánh thư ký Ban trị sự hội Phật giáo tỉnh Thái Bình. Ông là đại diện cho những cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các tôn giáo và là một trong những nhân tố mới của Phật giáo Thái Bình trong phong trào Đại đoàn kết toàn dân và học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

CON CHỮ LÀNG CHÀI

Bút ký của NGUYỄN LONG

         
Giống như những làng chài khác quanh năm lênh đênh sông nước, cảnh nghèo khó, lam lũ, bệnh tật, đông con... bám vào người dân chài từ đời này sang đời khác. Song làng chài thôn Cao Bình (xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, Thái Bình) còn một nỗi khổ nữa là thất học. Chuyện tưởng như đùa mà có thật, một làng nằm giữa vùng đất học, trong cái nôi văn hoá sông Hồng mà đến đầu thế kỷ XXI phần lớn người làng vẫn mù chữ. Cách đây vài chục năm đã có những lớp học "chân sóng" được mở ra nhưng mỗi con chữ đến được và nhất là trụ lại được với làng chài phải qua bao nhiêu nổi chìm  sóng gió.

         
          Năm nay làng chài Cao Bình dự định kỷ niệm lần 92 năm sống ở đất Hồng Tiến, Kiến Xương. Đấy là nghe truyền khẩu mấy đời chứ thực chất chẳng ai biết ngày tháng năm nào các cụ tổ vạn chài về đây cắm sào đậu lại thành làng. Vì cả làng từ xưa không ai biết chữ nên không một nhà nào có gia phả hay giấy tờ ghi lại sử  làng. Gọi là làng chứ đến nay mới chỉ có vài nóc nhà lèo tèo nằm sát con đê chắn sóng sát sông Hồng gần như biệt lập với xã hội bên ngoài. Đấy cũng là thành quả của mấy cuộc vận động làng chài an cư lạc nghiệp của các cấp chính quyền huyện xã từ mấy chục năm nay. Trước đây mảnh đất hờ của làng chỉ lênh đênh trên cái bến nước thôn Cao Bình mà gần một trăm năm nay người làng chài truyền đời nhau gọi đấy là quê. Cả làng có hơn 100 hộ giáo dân từ ngày xửa ngày xưa chỉ sống bằng nghề thuần sông nước. Cái làng bến nước ấy thực chất chỉ là nơi dân làng đăng ký hộ khẩu và một năm đôi ba lần các nhà tụ lại với nhau vào những kỳ lễ Giáng sinh, Phục sinh, lễ Quan thầy là những ngày đạo trọng, còn những ngày thường bến sông vắng ngơ vắng ngắt. Dân làng chài phiêu dạt tứ xứ làm ăn. Thuyền của làng Cao Bình hầu hết là thuyền nhỏ nên không nhà nào có khả năng đánh bắt xa bờ. suốt đời chỉ mon men ở các cửa sông. Có đi xa lắm  cũng chỉ quang quẩn ở các vùng ven bờ từ Thanh Hoá đổ ra đến Quảng Ninh, Hải Phòng. Bó bện với sông nước bao đời nhưng không mấy hộ của làng thoát khỏi cảnh nghèo khó. Chẳng ai dám nghĩ đến chuyện mua đất làm nhà để có nơi đi về khi trời dông biển động hay nghỉ ngơi lúc tuổi già không còn cầm nổi mái chèo, tay lưới. Cuộc sống lênh đênh sông nước, con thuyền là nhà, cắm sào đậu lại nơi đâu là quê không biết bao nhiêu cơ cực. Anh Hoàng Văn Hải hiện là trưởng thôn cả nhà đã lên bờ được mươi năm nay sinh ra trong một gia đình đã mấy đời chài lưới cho biết: Con thuyền chỉ rộng năm bẩy mét vuông mà nhiều nhà cả ba thế hệ hơn chục người chen chúc nhau sinh sống chưa kể đến có khi còn nuôi cả chó mèo và lợn gà nữa. Với cánh đàn ông cuộc sống trên thuyền dù vất vả, bí bích đến đâu cũng chịu đựng được. Nhưng với đàn bà, trẻ em thì trăm nỗi khổ cực. Bản thân anh cũng như nhiều người làng sinh ra trên biển. Khi mẹ anh sinh anh ở ngoài biển Hải Phòng, cha mới vội đưa vào bờ nơi gần nhất nhờ bà con địa phương giúp đỡ. Ba ngày sau khi thấy mẹ tròn con vuông cả nhà anh lại xuống thuyền ra khơi. Có những trường hợp đau đẻ gặp lúc thuyền đang ở xa không kịp cập bờ thì người trên thuyền phải tự đẻ, tự đỡ. Trẻ con từ khi sinh ra đã bị "nhốt" trên thuyền, nhưng thương tâm hơn là không mấy năm làng chài không có một vài đứa trẻ bị nước cuốn đi. Có gia đình như nhà anh Nguyễn Văn Để bốn năm liền có hai đứa con bị chết đuối. Cuộc sóng lênh đênh sông nước cuốn làng chài vào cái vòng luẩn quẩn nghèo khó, đông con và đặc biệt là thất học từ đời nọ đến đời kia.

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

Sự suy tàn đằng sau luỹ tre xanh


NGUYỄN ANH TUẤN


Cứ mỗi lần được đi trên sông Hồng, tôi lại mê mải nhìn sang hai bên làng xóm trù phú, và cố tìm những luỹ tre làng đang bị mất dần đi… Thế mà, suốt bao đời nay, luỹ tre làng là một trong những biểu hiện quen thuộc nhất, sinh động nhất của châu thổ Bắc bộ. Nhà thơ dân dã Nguyễn Duy từng thốt lên:
Thân gầy guộc, lá mong manh
Mà sao nên luỹ, nên thành tre ơi!


Nhiều thế kỷ qua, các lũy tre đã bao bọc quanh làng- từ cổng đầu làng tới cổng cuối làng. Các luỹ tre làng dày đặc gần như là thành quách tự nhiên bảo vệ an toàn cho những địa bàn dân cư cổ xưa nhất. Vì vậy, luỹ tre cũng đã từng là biểu tượng của văn hoá làng người Việt. Luỹ tre làng lúc nào cũng xanh tốt và chịu đựng nắng mưa bão tố một cách kỳ diệu! Cổng làng cũng thường làm bằng khung tre hình chữ nhật có thể mở ra đóng vào hoặc giương lên hạ xuống. Vào ban đêm, có thêm những cành tre gai đắp vào cổng cho thêm chắc chắn. Làng châu thổ rất chú trọng bảo vệ các luỹ tre, chúng có tác dụng ngăn trộm cướp. Nhiều hình phạt đã được quy định đối với những ai chặt tre mà không cho phép, kể cả những búp măng. Trong khoản phạt do làng quy định có nói đến tiền thưởng đối với những ai tố giác kẻ chặt tre tuỳ tiện. Cùng với việc bảo vệ chống tai hoạ đến từ bên ngoài, luỹ tre còn là một thứ ranh giới thiêng liêng của cộng đồng làng xã, một cách biểu thị sự độc lập và bảo vệ tính riêng biệt độc đáo của làng. Vào thời loạn lạc, có những làng đã bị triều đình trung ương ra hình phạt: buộc phá bỏ luỹ tre làng, nếu như đã tham gia vào cuộc nổi dậy, hay cho kẻ phiến loạn trú ẩn - hình phạt đó là một vết thương lớn của lòng tự trọng, một dấu hiệu nhục nhã, tựa như người bị lột trần giữa đám đông mặc quần áo!

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

LÀNG AN ĐỂ


NGUYỄN LONG

Tôi sinh ra và lớn lên ở làng An Để, xã Hiệp Hoà, huyện Vũ Thư, Thái Bình, một làng thuần nông, đồng chiêm trũng. Tuổi thơ của tôi cũng như mọi đứa trẻ lớn lên ở làng, việc học hành là phụ còn quanh năm phải lo chăn trâu, cắt cỏ, bốc bùn. Khi biết cầm cái cuốc là phải theo người lớn đi làm ruộng. Thời hợp tác xã, những người  khoẻ mạnh, mỗi công đi làm được tính 12 điểm, người bình thường được 10 điểm, bọn trẻ con lớn 15, 16 tuổi được 8 điểm còn những đứa 11, 12 tuổi mỗi ngày được tính nửa công... Những làng xã bên cạnh đều có nghề phụ kiếm sống. Nổi tiếng thì có tương làng Búng, thúng làng Giai, bánh đúc, đậu phụ là nòi Thanh Hương. Hay tương Phương Tảo, hàng xáo làng Lạng... Riêng dân làng tôi quanh năm chỉ biết cày cuốc chứ cũng chẳng biết đi gắp cứt chó, nhặt phân trâu về bón khoai bón lúa như một số làng thuần nông khác. Khi muốn bòn đồng tiền, dân làng chỉ biết bán thóc, hết thóc thì bán gio bếp, bán rạ... Cuộc sống lam lũ nghèo túng như thế nên không mấy aiquan tâm đến lịch sử làng mình. Kể cả những người được học hành lên cao, sau này đi ra ngoài làm cán bộ, quan chức.
Tôi cũng đã đi nhiều nơi và đọc được nhiều sách vở các loại. Nhưng chỉ đến tuổi tri thiên mệnh, về công tác và sinh sống ở tỉnh nhà, đọc được cuốn Nhận diện văn hoá làng của nhà nghiên cứu dân gian Nguyễn Thanh, nguyên là giám đốc Sở Văn hoá Thái Bình, tôi mới biết cái làng An Để nghèo khó của tôi từ thuở xa xưa đã từng sinh ra những vương hầu khanh tướng, là vùng đất cổ văn hiến của vùng châu thổ sông Hồng. Năm 2004 tôi đã viết bài Làng An Để giới thiệu trên mục Những làng Việt Nam nổi tiếng của báo Văn nghệ. Một người làng là ông Đào Thanh Cảnh, lúc đó làm trưởng phòng ở Sở Giáo dục tỉnh gặp tôi bảo: Anh mới đọc bài chú viết trên báo, thì ra lịch sử làng mình cũng rạng rỡ đấy nhỉ. Hoá ra ông cũng như tôi và nhiều người khác, cả đời sống ở làng mà không biết về làng.
Nhân dịp năm ấy làng vừa mới dựng được cái hội trường mới nhờ bán đất mặt đường ở ngã tư An Để nên được trên trích lại cho 60 triệu. Tôi mua mấy tờ báo có đăng bài trên đem về uỷ ban tặng cho máy cán bộ xã. Tôi còn gặp trực tiếp trưởng thôn, bảo ông cho trương bài báo lên hội trường thôn để mọi người đọc và biết. Nhưng sau đó tôi về quê mấy lần không thấy tờ báo đâu cả và cũng chẳng ai nhắc tới nữa. Và tôi tin rằng tới hôm nay cũng chẳng mấy ông cán bộ ở xã, ở huyện quan tâm tới lịch sử làng An Để chứ người dân làng lại càng ít người biết. Do vậy tôi đưa bài viết trên lên đây để ai cần thì tìm đọc.

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2012

Cái đêm hôm ấy . . . đêm gì

Vụ Tiên Lãng là kết quả tất yếu của việc chính quyền lạm dụng thu hồi đất đai gây ra bất công xã hội gay gắt đưa đến nổ súng cùng những hệ quả đi kèm. Tiên Lãng khiến người dân nhớ lại Thái Bình năm 1997 và trước đó nữa vào năm 1983 tại Thanh Hóa.

Khi ấy chính quyền tỉnh này cũng coi dân như cỏ rác, hà hiếp nhũng lạm hết mức đến nỗi tịch thu cả số lúa dành vào việc ma chay. Lúa được giấu trong quan tài của bà cụ sắp đến ngày quy tiên nhưng vẫn bị tịch thu xung vào thuế nông nghiệp.

Bút ký "Cái đêm hôm ấy … đêm gì ?" của Phùng Gia Lộc được viết trong hoàn cảnh hết sức đặc biệt và sau đó gây ra một làn sóng căm phẫn trong dư luận cả nước, phơi trần bộ mặt tối tăm của chính quyền lạm dụng chính sách để ức hiếp dân chúng.


Nhà văn Phùng Gia Lộc là nạn nhân trực tiếp của các vụ tịch sản dưới danh nghĩa thu thuế đã buộc phải trốn khỏi quê hương của mình về Hà Nội và được tòa soạn báo Văn Nghệ giúp ẩn náu viết lại bút ký nổi tiếng này.

Nhà văn Nguyên Ngọc lúc bấy giờ là Tổng biên tập của báo Văn Nghệ kể lại chuyến đi trốn tránh bọn tham quan Thanh Hóa như một chí sĩ trốn bọn thực dân ngay dưới thời đại của chính quyền Cộng sản. Trước tiên ông cho biết cuộc trốn tránh chính quyền Thanh Hóa của nhà văn Phùng Gia Lộc như sau:

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012

DỌC CON ĐƯỜNG NÔNG THÔN XA VẮNG



TẠ DUY ANH

1. 
Ở nhà quê, sau nếp nhà, trái bếp là đến cầu ao. Chưa có cầu ao kể như chưa khép kín một thế giới riêng biệt, thiếu một sự cân xứng mang tính phong thủy. Đi xa về gần, nếu là dân quê, không bao giờ vào nhà ngay nếu chưa qua cầu ao khỏa chân. Tuy chỉ là một vật dụng đơn giản nhưng cầu ao lại nói được rất nhiều điều về gia phong, gia thế của chủ nhân nó. 
Vài ba cây tre ghép lại sơ sài, gác qua loa lên hai chiếc cọc bắt chéo, đầu kia cẩu thả bám vào vách đất nham nhở, đó là chiếc cầu ao của nhà khó, chưa có nếp, quen tùy tiện trong sinh hoạt, bạ đâu hay đấy. Cũng bằng tre nhưng thẳng thớm, các mấu được róc nhẵn, cây đều và già, ghép to bản, cọc đỡ chắc chắn, mộng mẹo đâu ra đấy, bắc song song với mặt nước, bậc lên xuống thoáng, thấp, có cọc chốt những viên đá ong đen bóng khỏi xê dịch... Hoàn toàn có thể yên tâm với khẳng định: Gia chủ trọng nề nếp, kinh tế vững chãi, tôn trọng nguyên tắc, vui vầy với những gì mình tạo dựng. 

Thứ Năm, 27 tháng 10, 2011

BÁCH THUẬN, RIÊNG MỘT LỐI ĂN LÀM



Bút ký NGUYÊN LONG


Từ những năm đầu thập niên của thế kỷ trước cách đây khoảng bốn mươi năm, những ngày cả nước còn đang bom rơi đạn nổ, phong trào hợp tác xã nông nghiệp còn đang rầm rộ và cuộc sống khó nghèo vẫn còn trùm lên miền Bắc thì Bách Thuận đã nổi tiếng là một vùng quê giầu đẹp. Nghe nói thời ấy việc chạy ăn chạy mặc cho dân là công việc vất vả nhất của các địa phương nên mỗi khi phải đón tiếp khách là các cán bộ xã lo chạy đến són vó. Bởi khách trên đã về là phải lo cỗ bàn. Khách to, đông thì mổ bò, mổ lợn. Thấp nhất thì cũng phải “cơm gà, cá gỡ”. Có cơ sở một vụ phải đón vài ba lần khách là đã vốn teo, quỹ vỡ.

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2011

Phạm tiến Duật, người đi lạc trong hòa bình





Một Phạm Tiến Duật thi sĩ huyền thoại thủa ở đường mòn Hồ Chí Minh. Và “ông vẫn đi lạc trong trong chính thời đại mà ông đang sống…”. Nhà văn, nhà báo Nguyễn Quang Thiều viết về “nhà thơ số 1 của thời đại ấy…” với một tâm thế vừa cảm phục vừa âu yêm pha chút xót xa …


Đã nhiều lần tôi nói rằng : Nếu chọn một nhà văn Việt Nam để dựng tượng trên đường mòn Hồ Chí Minh thì tôi chọn nhà thơ Phạm Tiến Duật. Mà không chỉ mình tôi chọn ông. Rất nhiều người được hỏi đều chọn ông.

Suốt mười mấy năm chiến tranh, ông đã đi dọc con đường mòn kỳ lạ ấy, đi và làm thơ trong bom đạn, trong máu chảy. Hình ảnh ấy luôn luôn ám ảnh tôi. Và tôi không làm sao lý giải đầy đủ được con đường của thi ca trong con đường bi tráng ấy. Nhà thơ Mai Văn Phấn đã nói với tôi : Phạm Tiến Duật là người đã mang đến cho thi ca trong những năm tháng chiến tranh một đời sống mới cả về thi pháp lẫn nội dung. Mai Văn Phấn hoàn toàn đúng. Bởi đấy là sự thật. Có lẽ không bao giờ còn có một nhà thơ được tất cả các Uỷ viên Bộ Chính Trị mời cơm khi ông trở về từ chiến trường. Cũng không còn có một nhà thơ nào như ông được những người lính nói : “ Chúng tôi tựa vào những câu thơ của Phạm Tiến Duật để đi vào mặt trận”. Và như thế, ông đã hoàn thành trọn vẹn sứ mệnh của một người lính và của một nhà thơ trong chiến tranh.

Thứ Năm, 31 tháng 3, 2011

Người thổi kèn lá dứa



  NGUYỄN QUANG THIỀU
Không hoàng hôn nào tóc chị ngớt bay dọc triền sông Đáy quê tôi. Đây không phải là sự lãng mạn của một nhà văn. Đây là cảm xúc đầy tính hiện thực của một người đàn ông trong suốt ba mươi tám năm nay. Đã nhiều lần tôi có ý định giành ra một thời gian để đi tìm quê chị. Tôi muốn được thắp một nén hương trước mộ chị, được nói một câu mà suốt từng ấy năm tôi đã không nói được. Nhưng tôi vẫn chưa làm được việc đó. Công việc cứ cuốn tôi đi như dòng nước lớn cuốn một cánh lục bình bé nhỏ. Để có những chiều tôi cảm thấy buồn và xấu hổ về ý định chưa thực hiện được của mình.

Chị xuất hiện trước tôi trong một chiều mưa dầm. Đó là ngày chị nhập học năm thứ nhất Khoa lý, Đại học Sư phạm Hà nội. Ngày đó các trường đại học đều sơ tán về các vùng quê bởi Mỹ ném bom miền Bắc. Chị được bố trí trọ học ở nhà tôi. Năm đó chị 17 tuổi. Chị đứng trước hiên nhà tôi người đẫm nước

mưa, tay xách chiếc rương gỗ nhỏ đựng tư trang. Chị mỉm cười nhìn tôi và nói : “ Chào em”. Hình ảnh ấy là hình ảnh duy nhất tôi nhìn thấy từ đó đến nay có khả năng làm cho thời gian trong tôi hồi phục một cách trọn vẹn. Mọi thứ đều thay đổi. Nhưng một cô gái thôn quê giản dị đứng trong mưa mỉm cười với tôi mãi mãi đẹp như một cơn mơ. Năm đó tôi bắt đầu vào học lớp 5 trường làng. Vào lớp 5, học sinh phải làm một bài tập làm văn có ba phần : mở bài, thân bài và kết luận. Tôi không hiểu vì sao tôi lại có thể trở thành nhà văn khi mà ngày ấy tôi không sao phân biệt được đâu là mở bài và đâu là kết luận. Tối tối chị vẫn kiên nhẫn dạy tôi học. Nhưng cứ khi bắt tay vào bài tập làm văn tôi lại không nhớ gì nữa. Tôi hoàn toàn lẫn lộn giữa mở bài và kết luận.