Trang

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

XEM LẠI BÀI BÁO ĐÃ ĐEM LẠI TAI HỌA CHO HOÀNG NGỌC HIẾN

(Theo TỄU BL0G)

.
Về bài của Hoàng Ngọc Hiến

Lại Nguyên Ân

Đây là bài báo nổi tiếng nhất trong đời văn của Hoàng Ngọc Hiến, cũng là bài báo đem lại cho ông một tai họa vào loại nặng nề nhất.

Cần lưu ý rằng, bài báo của ông xuất hiện vào thời mà xã hội bao cấp đã phân hóa ở mức đáng kể; ngay xã hội viên chức cũng tự phân đôi: hầu hết viên chức đều ứng xử theo cách: nói năng “theo nghị quyết” ở nơi họp hành chính quy, nói năng “theo hiểu biết riêng” ở các xúc tiếp riêng tư, tin cậy. Vì thế, một mặt, bài báo của Hoàng Ngọc Hiến khiến ông bị đối xử tàn tệ trong cơ chế quan chức, trong xã hội viên chức; song, mặt khác, bài báo lại khiến ông càng được kính trọng hơn trong các giao tiếp mang tính cá nhân, dân sự, đời thường, không chỉ ở giới chuyên môn hẹp của những người nghiên cứu xã hội nhân văn, giới sáng tác văn nghệ, mà cả giới trí thức nói chung.

Đây là một tiểu luận mỹ học xuất sắc.

Tác giả đã đem thực trạng các sáng tác văn nghệ xã hội chủ nghĩa ra soi rọi dưới ánh sáng của các nguyên lý mỹ học cổ điển, chỉ ra cho người ta thấy ở văn nghệ này “sự miêu tả cái phải tồn tại lấn át sự miêu tả cái đang tồn tại”, và do vậy, “chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa ở ta trong giai đoạn vừa qua mang khá đậm dấu ấn của cái cao cả (le sublime)”.

Theo lập luận của nhà mỹ học Hoàng Ngọc Hiến, “loại hình quan hệ lấn át của một loạt cặp phạm trù hết sức cơ bản mô tả những mâu thuẫn cốt yếu nhất thúc đẩy sự phát triển nội tại của nghệ thuật vừa được nêu lên là đặc trưng khái quát nhất của cái cao cả. Đến lúc quan hệ lấn át chuyển hóa thành quan hệ cân bằng, hài hòa thì sự vận động của nghệ thuật tiếp cận với cái đẹp như là lý tưởng”.

Một sự luận chứng đầy chất hàn lâm, cũng đầy sự trọng thị (đối với đối tượng luận bàn là văn nghệ xã hội chủ nghĩa) như vậy, vì sao lại gây nên những phản ứng mạnh mẽ của nhiều người trong giới nhà văn, nhất là nhiều người trong giới những cán bộ quản lý tư tưởng-văn hóa-văn nghệ?

Những lý do sẽ phần nào được thấy, khi ta đọc lại những bài viết của Tô Hoài, Hà Xuân Trường, Trần Độ, Phan Cự Đệ, Chế Lan Viên, Chính Hữu.

Nhưng, có thể, giọt nước làm tràn ly không hẳn nằm ở hệ thống lập luận kể trên, mà lại nằm ở đoạn diễn dịch này:

“Đứng ở bình diện cái phải tồn tại, người nghệ sĩ dễ bị cuốn hút theo xu hướng miêu tả cuộc sống “cho phải đạo”, còn đứng ở bình diện cái đang tồn tại thì mối quan tâm hàng đầu là miêu tả sao cho chân thật. Đọc một số tác phẩm chúng tôi thấy tác giả dường như quan tâm đến sự phải đạo nhiều hơn tính chân thật. Có thể gọi loại tác phẩm này là “chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. Thực ra, ngay trong đời sống thực tại, do quy luật của sự thích nghi sinh tồn, dần dần được hình thành những kiểu người “phải đạo” với những cung cách suy nghĩ, nói năng, ứng xử được xem là “phải đạo”. Khái quát những hiện tượng hết sức thực tại này vẫn sản sinh ra chủ nghĩa hiện thực phải đạo”. (trích bài Hoàng Ngọc Hiến)

“Phải đạo” không phải một tổ hợp gồm 2 từ mà chỉ là một từ; ngay “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895-96) đã ghi nhận “phải đạo” như một từ mà hàm nghĩa là “phải phép, phải lẽ, phải việc, bổn phận”; hàm nghĩa của từ này, ở các giới xã hội người Việt, sau đó sẽ còn tiến triển.

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

TỔNG THUẬT THÓI HƯ TẬT XẤU CỦA NGƯỜI VIỆT

TRẦN VĂN CHÁNH (Theo trannhuong.com)

MỞ ĐẦU

Thời gian gần đây, nhiều người được biết đến câu chuyện một nữ tiếp viên hãng hàng không Vietnam Airlines bị bắt tại Nhật do nghi ngờ xách lậu hàng ăn cắp về Việt Nam. Văn phòng của Vietnam Airlines tại Tokyo bị lục soát, tổ bay bị điều tra, cảnh sát Nhật nói họ nghi ngờ có khoảng 20 nhân viên của hãng hàng không này liên quan đến vụ xách lậu (xem báo Tuổi Trẻ, 27.3.2014). Chuyện tưởng nhỏ nhưng liền sau đó trở nên lùm xùm, nhưng không phải đối với người Nhật, mà lại đối với người Việt Nam. Báo chí trong nước lên tiếng. Người ta cho đây là hành động gây tiếng xấu chung cho uy tín người Việt.

Thật ra, chuyện người Việt khá thường ăn cắp đồ tại các siêu thị ở Nhật hay ở một số nước khác không mới lạ. Ông Tai Odata, một nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam hiện đại, trong một bài trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ (31.3.2014), cho biết người Việt (gồm cả người lao động xuất khẩu và người định cư) hay ăn cắp một số đồ vật như xe máy, máy ảnh, máy quay phim, mỹ phẩm…, và khi bị cảnh sát bắt thường chối tội không chịu khai thật (khác với người Nhật quen khai thật). Người ta hỏi ông Odaka nghĩ gì khi ngày càng nhiều người nói đến cụm từ “người Việt xấu xí” thì ông tế nhị không trả lời thẳng, mà nói quanh co bằng cách so sánh một vài tính cách khác biệt giữa người Việt Nam với người Nhật (như người Nhật có thói quen giữ vệ sinh trong ăn uống hơn, tôn trọng giờ giấc hơn, trong giao tiếp nói nhiều câu “cám ơn” hơn…).

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2015

XÃ HIỆP HÒA (HUYỆN VŨ THƯ - THÁI BÌNH) ĐÓN NHẬN DANH HIỆU ĐƠN VỊ ANH HÙNG LLVT THỜI KỲ CHỐNG PHÁP

Xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư (Thái Bình) quê mình hôm nay đón nhận “Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang thời kỳ chống Pháp”. Dân làng và cán bộ địa phương náo nức chờ ngày Hội. Từ hôm hai đồng chí Bí thư Đảng ủy và chủ tịch xã xuống thành phố ghé vào nhà mình đưa giấy mời về dự Lễ. Là một người con của quê hương, hiểu lịch sử làng xã, mình thấy vui buồn lẫn lộn. Hiệp Hòa là một xã Khoa bảng. Từ đời Lý tới đời Nguyễn đã có bốn vị Đai khoa được khắc tên trên bia đá ở Văn Miếu quốc tử giám tại Thăng Long và Huế. Hiện nay Hiệp Hòa đã có bốn quân nhân được phong tướng. Nhưng những người làm lên thành tích anh hùng của làng xã ngày ấy là thế hệ ông bà, bố mẹ mình. Ông ngoại mình tham gia hoạt động cách mạng từ những năm 1930, bị bắt tù Côn Đảo từ năm 1931 – 1936. Năm 1945 khi CM Tháng 8 thành công được cử là chủ tịch UBCM lâm thời của làng. Cụ mất từ năm 1954, do bị bọn cường hào đâm chết, nhưng chế độ lão thành cách mạng của cụ hôm nay Thường vụ tỉnh ủy vẫn chưa duyệt xong. Mẹ mình là chủ tịch Hội phụ nữ đầu tiên của xã nay đã 86 tuổi ròi, còn bố mình là một trong 7 Đảng viên được kết nạp đợt đầu tiên ở xã cũng đã mấy cách đây 2 năm. Mình không hiểu vì sao sau hơn 60 năm kháng chiến chống Pháp và 40 năm thống nhất đất nước, địa phương mới được công nhận là anh hùng. Cái danh hiệu ấy không phải là của những người 60, 70 tuổi trở xuống mà là của lớp người đã mất. Cả xã có gần 20 vị lão thành các mạng thì nay chỉ còn lại hai cụ, đi lại không còn vững. Và gần 30 bà mẹ VNAH nay chỉ còn một mẹ đã tròn 100 tuổi. Nhưng muộn còn hơn không. Dù sao thì cũng là một vinh dự của địa phương và một sự yên ủi đối với những người đã làm nên sự tích anh hùng.

          Mình đưa một số hình ảnh làng xã đón anh hùng lên để những người con củả Hiệp Hòa ở xa nhìn thấy quê hương mình.
Đồng chí chủ tịch Huyện Vũ Thư phát biểu trong buổi lễ

Đồng chí Bí thư huyện ủy huyện Vũ Thư thay mặt Nhà nước trao cờ và bằng chứng nhận danh hiệu AHLLVT cho xã

Các đòng chí lãnh đạo xã đón nhận cờ và Bằng chứng nhận Đơn vị anh hùng


Đ/c Bí thư Huyện ủy Vũ Thư phát biểu trong Lễ hội

Đại diện các lực lượng của xã

Đại diện Hội CCB xa Hiệp Hòa

Đ/c Đỗ Lương Thiện chủ tịch xã phát biểu trong buổi lễ

Một bà cụ gần 100 tuổi trong xã, đã sống trong thời kỳ anh hùng chống Pháp của xã


Hai bức ảnh dân làng dự lễ

Màn biểu diễn Văn nghệ xã trong ngày Hội

Những người con của quê hương công tác ở thành phố TB về dự lễ Hội

Ông Tân nguyên chủ tịch xã trong thời kỳ làng xã mất ổn định năm 1997

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2015

ẨN NGHĨA TRONG BÀI THƠ THƯỜNG DÂN CỦA NGUYỄN LONG?

Phạm Hoài Ngọc hiện là Phó hiệu trường trường THPT Nam Duyên Hà (Thái Bình), một cây bút thơ của Hội VHNT Thái Bình, vừa chia sẻ cho mình bài viết này trên FB, mình cảm ơn thịnh tình của tác giả và rinh về đây để lư giữ.

Bài thơ Thường dân là một bài thơ hiếm gặp. Bởi lẽ, cái khẩu khí như vậy thì ở đâu đó cũng có nhưng chỉ là một vài câu cảm thán, vài câu đọc chơi bời lúc trà dư tửu hậu mà thôi. Chứ là một bài thơ thế sự đậm chất trữ tình và nhất là khi trình làng lại được đón nhận nồng nhiệt và tạo ra một hiệu ứng sâu rộng thì quả là đặc biệt.
Thường dân hay là dân thường, người không có chức vụ, danh vị trong xã hội. Họ là lớp người đông đảo, như là cỏ, như là nước, là cây chông, cây mác nhiều nhưng không thừa, bởi họ là những con người hữu ích, bởi họ có giá trị tự thân:Khi là cây mác cây chông/Khi thành biển cả, khi không là gì.
Ở đây cả khi nói: khi không là gì, cũng đã hàm ẩn một sức mạnh chất chứa, một sức mạnh tiềm ẩn có thể làm nên những vụ vần bão giông chứ không phải chỉ chịu những tác tao. Câu thơ làm nhớ lại lời cổ nhân: Dân như nước.

Thứ Tư, 25 tháng 3, 2015

PHÉP MẦU LÝ QUANG DIỆU

Trong 31 năm ở cương vị Thủ tướng Singapore, ông đã biến nước này từ một hòn đảo lạc hậu, thiếu cả nước sinh hoạt thành một trong những nền kinh tế mạnh nhất thế giới.
Đã có rất nhiều những lời ca ngợi ông từ các chính khách, các nhà kinh tế v.v và ông cực kỳ xứng đáng với những lời ca ngợi đó. Nhiều lãnh đạo các nước đã đến Đại sứ quán Singapore ở nước mình, nghiêng mình trước ảnh ông và nghiêng mình là phải.
Ngày 24/03, Báo “Lenta.ru” cũng đã có bài viết điểm lại những thời kỳ cơ bản trong tiến trình biến Singapore thành một “ phép màu kinh tế” của cuộc đời ông. Xin giới thiệu với bạn đọc và có bổ sung thêm, phần trong ngoặc đơn là phần bổ sung của người dịch.
Trước thời điểm tuyên bố độc lập năm 1965, Singapore là một đất nước nhỏ và nghèo, phải nhập khẩu thậm chí cả nước ngọt và vật liệu xây dựng. Mối quan hệ với các nước láng giềng lúc ấy cũng rất phức tạp (Malaysia đóng cửa thị trường đối với Singapore, còn Inđônexia thì gần như tuyên bố chiến tranh), nạn tham nhũng làm tê liệt gần như toàn bộ bộ máy quyền lực.
“Năm 1959, khi tôi trở thành Thủ tướng, thu nhập bình quân đầu người dân là 400 đô la (Mỹ). Năm 1990, khi tôi nghỉ hưu, mức thu nhập bình quân đạt mức 12.200 đô la (Mỹ), còn vào năm 1999, con số trên là 22.000 đôla (Mỹ), Lý Quang Diệu đã viết như vậy trong cuốn sách của ông (tạm dich): “Lịch sử Singapore. Từ thế giới thứ ba – đứng trong hàng ngũ các nước thế giới thứ nhất” .
Cố Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu.
Cố Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu.
Lý Quang Diệu và Đảng “Hành động nhân dân” do ông sáng lập đã tập trung sự quan tâm và các nguồn lực của mình để hiện thực hóa các dự án dài hạn được soạn thảo dưới sự hướng dẫn của các chuyên gia nước ngoài.

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2015

Lý Quang Diệu: Lãnh đạo kém sẽ ngáng chân người giỏi

Có tầm nhìn sâu rộng, tính cách lạnh lùng cứng rắn, ông Lý Quang Diệu đã biến Singapore từ một hòn đảo nhỏ bé không tài nguyên thiên nhiên trở thành nền kinh tế thịnh vượng. (Theo vietnam. net)


Sinh năm 1923, Lý Quang Diệu học trung học tại một trường của Anh ở Singapore, sau đó theo học trường Kinh tế London rồi tới Cambridge, nơi ông theo học ngành luật. Trở về Singapore, ông thành một luật sư có tiếng, chuyên lĩnh vực nghiệp đoàn.
Năm 1954, ông là sáng lập viên và là tổng bí thư đầu tiên của đảng Nhân dân hành động (PAP), vị trí mà ông nắm giữ gần 40 năm. Sau đó, ông đưa ra một chương trình cải tổ to lớn, nhằm biến Singapore từ "nơi tăm tối với đói nghèo và tan rã" thành một quốc gia công nghiệp hóa hiện đại. Từ 1960 tới 1980, mức giá trị hàng hóa dịch vụ bình quân đầu người ở Singapore tăng gấp 15 lần.

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015

KINH PHÍ CHI TIÊU CỦA VP TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

Văn phòng Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam chi tiêu một năm gần 100 triệu USD, theo một văn bản về công khai ngân sách của Bộ Tài Chính nước này ( xem đường dẫn)
Văn phòng Trung ương Đảng chi tiêu cao hơn hẳn trong bốn Văn phòng gồm cả Văn phòng Chính phủ, Chủ tịch Nước, Quốc hội.
Trong năm 2014, Văn phòng Trung ương Đảng có dự toán 1973 tỷ VND, tương đương 98,6 triệu USD, gấp 10 lần VP Chủ tịch Nước (195.9 tỷ).
Văn phòng Chính phủ có dự toán chi tiêu 1290 tỷ VND.
Tại Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản, số biên chế có mặt năm 2014 là 2895 người và ngoài khoản tiền lương, tiền thưởng, thông tin tuyên truyền, hội nghị, chi đoàn ra, đoàn vào, mua và đầu tư tài sản vô hình còn có nhiều khoản chi khác.
Vẫn văn bản trên của Bộ Tài Chính Việt Nam cho hay Văn phòng Trung ương Đảng năm 2014 đã "chi viện trợ Đảng Nhân dân Cách mạng Lào 14,300 triệu VND".
Ngoài ra, bốn cơ quan đại diện ở nước ngoài của Văn phòng có dự toán 6,260 triệu đồng.