Trang

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2020

MỘT SỐ BÀI KÝ TIÊU BIỂU CỦA NGUYỄN HỒNG LAM

Nguyễn Hồng Lam
 

Tên thật Nguyễn Đức Vinh,

 Sinh năm Nhâm Tý, 1972, tháng Quý Xuân, tại Trung Lễ, Đức Thọ, Hà Tĩnh

Quế  quán: Thạch Kim, Thạch Hà, Hà Tĩnh.Tốt nghiệp ĐHTH TP HCM, khoa Ngữ Văn, năm 1993. Nhà báo. Nhá văn, Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh. Hiện làm việc tại báo An Ninh Thế giới.

Tác phẩm đã xuất bản:

- Phục Thiện, truyện ngắn, 1996

- Đường đời trong lòng tay, Truyện ký, 1998

- Người Sài Gòn đánh Mỹ, 1999

- Chiếc cầu có đám ma đi qua, truyện ngắn, 2000

- Người của giang hồ, 2004, 2006

- Vụ án Đồi Hoa Mai, 2005

  một số sách in  chung khác...

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2020

NĂM THI PHẨM ĐƯƠNG ĐẠI CỦA THƠ THÁI BÌNH

Đỗ Trọng Khơi

Tôi đang làm một tập bình thơ, bình các bài thơ hay cổ/cận và hiện đại. Trong tập tôi dành một phần nhỏ, cuối tập chọn/bình 5 thi phẩm của 5 tác giả đương đại quê Thái Bình. Xin trân trọng gt cùng bạn đọc).





THƯỜNG DÂN

Đông thì chật, ít thì thưa
Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân
Quanh năm chân đất đầu trần
Tác tao sau những vũ vần bão dông

Khi làm cây mác cây chông
Khi thành biển cả khi không là gì
Thấp cao đâu có hề chi
Cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi

Ăn của đất, uống của trời
Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin
Ồn ào mà vãn lặng im
Mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn

Chỉ mong ấm áo no cơm
Chắt chiu dàng dụm thảo thơm ngọt lành
Hoà vào tời đất mà xanh
Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.
NGUYỄN LONG

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2019

TẢN MẠN VỀ CON ĐƯỜNG THƠ

NGUYỄN LONG

CON ĐƯỜNG THƠ, ĐÔI ĐIỀU TẢN MẠM

Tôi thường nghĩ: Con đường thơ có cánh cửa rất rộng, hình như rộng đến không cùng nên thời nào cũng có ngàn vạn người bước chân vào. Hoặc ai muốn đến muốn đi lúc nào cũng được.
Có người bảo thơ là thứ linh đơn của tâm hồn con người. Nó trong vắt và tinh khiết như nước mạch đầu nguồn, nhưng làm say đắm và mê hoặc con người bởi có chất linh men, nên không phải ai uống cũng được. Người tinh tế, cao sáng uống vào càng cao sáng tinh tế hơn. Người không cao sáng tinh tế uống vào chẳng có tác dụng gì. Và cái chất linh men thơ ấy không phải là không có những phản ứng phụ như bất cứ dược tố nào. Người ta gặp ở nơi thơ đủ những con người. Có nhiều người thơ thực thụ, họ coi thơ là thứ có thể cứu rỗi linh hồn con người nên cả đời cặm cụi tiếp theo tiền nhân làm ra thứ linh dơn của con người. Lại có không ít người nhầm tưởng thơ cũng như nước lã, muốn làm ra bao nhiêu, muốn uống bao nhiêu cũng được và mắc cái bệnh coi mình là vĩ nhân trước thiên hạ

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019

CẢM NHẬN VỀ THƯỜNG DÂN CỦA ĐỖ LÂM HÀ

THƯỜNG DÂN
NGUYỄN LONG

Đông thì chật, ít thì thưa
chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân
quanh năm chân đất đầu trần
tác tao sau những vũ vần bão giông


Khi làm cây mác cây chông
khi thành biển cả, khi không là gì
thấp cao đâu có hề chi
cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi

Ăn của đất, uống của trời
dốc lòng cởi dạ cho người mình tin
ồn ào mà vẫn lặng im
mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn

Chỉ mong ấm áo no cơm
chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành
hòa vào trời đất mà xanh
vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.

LỜI BÌNH CỦA NHÀ GIÁO ĐỖ LÂM HÀ

Khi tôi viết những lời cảm nhận này, bài thơ Thường dân của Nguyễn Long đã xuất hiện trên thi đàn đất nước 16 năm (2003 – 2019), đã vượt qua cái mức thử thách của khoảng thời gian khắt khe nhất: “Mười năm năm ấy biết bao nhiêu tình” để tồn tại lan thấm vào tâm hồn bạn đọc về phía tương lai.

Thứ Năm, 21 tháng 2, 2019

BÀI BÌNH THƠ VẪN CHUYỆN THỊ MẦU CỦA ĐẶNG TOÁN


VẪN CHUYỆN THỊ MẦU
(Thơ Nguyễn Long)

Kẻ chê người trách Thị Mầu
Trăm năm vẫn chuyện miếng trầu mặn vôi
Khuất sau miệng lưỡi người đời
Đâu điều oan nghiệt, đâu lời thị phi.

Yêu người yêu đến cuồng si
Nghĩ đâu cửa Phật trơn lì rêu xanh
Muốn trồng cây cải không thành
Cái hôm thất vọng thân đành gió đưa.

Trăm người ăn vụng táo chua
Chỉ riêng em mắc lưới thưa vạ làng
Bao nhiêu thước ngọc khuôn vàng
Vênh vao đo những trái ngang lỡ lầm.

Một thời oan tiểu Kính Tâm
Đã về thành phật Quan âm trên chùa
Sân đình mỗi trận gió khua
Trái oan lăn lóc chát chua Thị Mầu.

Lời bình của Đặng Toán

Nếu nói Nguyễn Long bênh vực Thị Mầu thông qua bài thơ này thì cũng
đúng. Bởi nếu không, ông đã chẳng tốn công tìm trong trăm ngàn điều chê
trách của người đời với Thị Mầu, để mà phân định “ đâu điều oan nghiệt,
đâu lời thị phi” như thế.
Tình yêu từ ngàn đời nay vẫn luôn là một trạng thái tình cảm vô cùng phức

BÀI BÌNH THƠ VỀ LÀNG CỦA ĐẶNG VĂN TOÀN

VỀ LÀNG
Nguyễn Long
Dẫu đi cuối đất cùng trời
Về làng ta vẫn là người nhà quê
Vẫn màu cỏ mướt ven đê
Từ thời chân đất nón mê đến giờ
Đã qua trăm bến ngàn bờ
Giờ về bến nước tuổi thơ vẫn đầy
Bao mùa mưa giật bão giây
Cánh cò trắng muốt còn bay ngang đầu
Trăm lần triết lý nông sâu 
Để ta về lại với câu thật thà
Mây tìm về phía trời xa
Ta bơi ngược gió nhận ra đường làng./.

..............................................................
Lời bình:
Về làng đã từng đoạt giải A cuộc thi thơ lục bát trên báo Văn nghệ ( 2002 – 2003). Nó giữ nguyên được vẻ chân mộc, hiền lành của giọng thơ Nguyễn Long. Tình thơ tươi, đằm trong vần điệu lục bát êm ái và nhuần nhuyễn.
Hệ thống các hình ảnh "chân đất nón mê" – "bến nước tuổi thơ" hay "cánh cò trắng muốt" rất đậm, rất tiêu biểu, thấp thoáng được cái mạch ca dao thiết tha nồng thắm, nó chứng tỏ lòng người tuy sống xa quê nhưng hồn quê, tình quê không bao giờ phai nhạt. Chỉ một câu "Vẫn màu cỏ mướt ven đê" đủ nói lên thái độ thương yêu, trìu mến của tác giả, đủ làm cho người đọc rưng rưng cảm động trước cái xanh non, tươi nguyên của sự sống, cuộc sống diệu kỳ.

Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2017

THỜI CỦA VĂN CHƯƠNG

THỜI CỦA VĂN CHƯƠNG
                   NGUYỄN LONG
  (Viết nhân Đại hội Văn học NT Thái Bình lần thứ X 
Trong lịch sử hàng nghìn năm, văn chương luôn được coi là quan trọng nhất, là lĩnh vực đứng đầu thiên hạ. Người xưa thi chọn người tài chủ yếu thi văn chương chữ nghĩa. Người làm vua quan, phần lớn đều văn hay chữ tốt. Những tác phẩm bất hủ trong kho tàng văn học dân tộc như: bài thơ Nam quốc sơn hà nam đế cư tương truyền là của Lý Thường Kiệt thời Lý, Hịch tướng sỹ của Trần Quốc Tuấn thời Trần, Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi thời Lê…đều là những đấng bậc quân vương nắm trong tay vận mệnh đất nước. Tới nhà Nguyễn, thời Tự Đức, cái ông vua “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/ xếp tàn y lại để dành hơi…” còn lập lên Hội thơ Thập nhị bát tú tự mình đứng đầu. Thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ông Trường Trinh là Tổng bí thư Đảng vừa là nhà thơ Sóng Hồng, ông Lê Đức Thọ trưởng Ban tổ chức Trung ương quyền nghiêng thiên hạ vẫn làm Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Thời Chống Mỹ văn chương vẫn còn linh thiêng, được xã hội trọng vọng. Ông Phạm Tiến Duật chỉ là tài thơ, khi vào chiến trường Trường Sơn được tướng Đồng Sỹ Nguyên cho đặc cách hưởng chế độ như một vị tướng. Khi ông ra Bắc được các ủy viên Bộ chính trị thay nhau mời cơm ở nhà riêng. Trên còn có ý xắp xếp cho ông chiếc ghế Bí thư Đoàn toàn quốc, ngang hàm bộ trưởng…   Nhưng từ thời cơ chế thị trường, nhất là đôi chục năm trở về đây số lượng người làm văn làm thơ càng đông lên, các tổ chức hội hè văn bút càng to ra và nở rộ thì văn chương ngày càng xuống cấp, càng bị xã hội thờ ơ, rẻ rúng. Không còn mấy người hào hứng với nghiệp văn chương.