Trang

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012

DỌC CON ĐƯỜNG NÔNG THÔN XA VẮNG



TẠ DUY ANH

1. 
Ở nhà quê, sau nếp nhà, trái bếp là đến cầu ao. Chưa có cầu ao kể như chưa khép kín một thế giới riêng biệt, thiếu một sự cân xứng mang tính phong thủy. Đi xa về gần, nếu là dân quê, không bao giờ vào nhà ngay nếu chưa qua cầu ao khỏa chân. Tuy chỉ là một vật dụng đơn giản nhưng cầu ao lại nói được rất nhiều điều về gia phong, gia thế của chủ nhân nó. 
Vài ba cây tre ghép lại sơ sài, gác qua loa lên hai chiếc cọc bắt chéo, đầu kia cẩu thả bám vào vách đất nham nhở, đó là chiếc cầu ao của nhà khó, chưa có nếp, quen tùy tiện trong sinh hoạt, bạ đâu hay đấy. Cũng bằng tre nhưng thẳng thớm, các mấu được róc nhẵn, cây đều và già, ghép to bản, cọc đỡ chắc chắn, mộng mẹo đâu ra đấy, bắc song song với mặt nước, bậc lên xuống thoáng, thấp, có cọc chốt những viên đá ong đen bóng khỏi xê dịch... Hoàn toàn có thể yên tâm với khẳng định: Gia chủ trọng nề nếp, kinh tế vững chãi, tôn trọng nguyên tắc, vui vầy với những gì mình tạo dựng. 

Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2012

THÀY HIỆN


Truyện ngắn dự thi của NGUYỄN LONG

          Mỗi lần đi qua cổng trường cấp ba làng Yên, thày Hiện lại thấy lòng mình chộn rộn rất khó tả. Đã mấy chục năm trôi qua mà cái cảm giác ấy vẫn tươi nguyên như ngày thày mới phải xa trường. Không biết cái không khí lúc nào cũng trẻ trung của trường lớp hay duyên nợ với nghề từ kiếp trước đã buộc một phần hồn của thày vào giáo án, bài giảng mà đến gần cuối đời thày vẫn không quên được. Cho dù cái quãng thời gian đứng trên bục giảng chỉ là một đoạn nhỏ trong cuộc đời thày và nó chẳng xuôi sẻ ngọt ngào.
          Cái thuở thày mới ra trường về đây dạy, đạo học còn tôn nghiêm lắm. Các thày cô giáo là thần tượng trong đầu óc học sinh. Giáo viên thời ấy còn có giá, ở đâu cũng cần. Những trường vùng sâu vùng xa như làng Yên lại càng thiếu. Thày về nhận công tác được nhận lớp, phân giờ ngay và hôm sau đã được lên bục giảng. Khu trường học bấy giờ còn nhà tranh vách đất. Mỗi thày cô được phân nửa gian nhà lá và một vuông đất để trồng rau tăng gia.

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2012

BAC TRIEU TIEN, CAU HOI LON


Bắc Triều Tiên, câu hỏi lớn chưa có lời giải


Vũ khí ba thế hệ
Thông tin về Bắc Triều Tiên có rất ít, thậm chí chúng tôi đã làm về Bắc Triều Tiên hơn 30 năm rồi mà cũng chưa giải đáp được những câu hỏimà các anh lúc nãy đã sơ bộ nêu ra, không biết Bắc Triều Tiên là cái gì đâu. Bây giờ, tôi chưa có tham vọng trả lời với các anh cái ông này nó thế nào, chế độ này nó ra làm sao, hay nó là loại gì trong lịch sử nhân loại. Tôi chỉ xin kể lại những điều mắt thấy tai nghe, những gì đã cảm nhận được trong suốt một thời gian dài công tác ở đây. Thực tế trong quá trình công tác nhiều năm cũng không có những nguồn thông tin gì thực sự đáng tin cậy, cũng là nghe qua người này, người kia, qua bộ phận này, bộ phận khác. Không có một loại tài liệu gì mang tính chất chính thống mà người ta đưa ra.

Thứ Bảy, 24 tháng 12, 2011

BẢO SINH làm thơ, nuôi chó, chọi gà



  

Có người gọi ông là “lão khùng”. Có người gọi ông là nhà thơ dân gian trứ danh với những câu thơ ngạo đời xưa nay hiếm. Nhưng cũng có nhiều người biết đến ông là chủ của hotel chó mèo có một không hai ở Việt Nam. Vì thế ông có hỗn danh là “Sinh chó”. Chính ông cũng thừa nhận: “Làm thơ, nuôi chó, chọi gà/ Mấy ai biết được ông là nhà thơ” . Tất cả những bài thơ của Bảo Sinh, ông đều gọi chung là huyền thi. Ông nói để hiểu được thơ ông thì phải hiểu được thế nào “huyền thi”. Ông quan niệm sáng tác thơ bây giờ là phải “Viết những cái gì mà Google không tra được. Vì thời buổi bão hòa thông tin thế này, viết những cái gì có trên Google thì còn ai đọc nữa?”.





Ông chủ khách sạn, nghĩa trang chó mèo... làm thơ

VŨ VIẾT TUÂN

Ông chủ khách sạn chó mèo 
Vừa mới vào đến ngõ nhà Bảo Sinh, đã thấy biển chỉ dẫn: Khách Sạn Chó Mèo, 167 Trương Định. Ngay cổng là tấm biển to đùng: “Vương quốc chó mèo gà chọi”.Trong khuôn viên rộng hàng ngàn m2 giữa lòng thủ đô, có một tòa nhà khang trang, nhưng không dành cho người dành cho chó mèo. Bảo Sinh bắt đầu xây dựng khách sạn chó mèo từ năm 2000. Sau đó, ông còn lập thêm nghĩa trang chó mèo "để sau khi chết đi, linh hồn có chỗ đi về". Lại thêm hơn 700m2 giữa thủ đô.

Nhà thơ Nguyễn Bính: Hồn tôi giếng ngọt trong veo



 
Cái tài của Nguyễn Bính, là dù ông rất chú trọng về mặt vần điệu, song hơi thơ đọc lên nghe vẫn thanh thoát, tự nhiên, chữ nghĩa xem ra cũng không bị gò gẫm. Đặc biệt, trong nhiều trường hợp, như một ông thầy cao tay điểm huyệt,   Nguyễn Bính đã có cách nhấn nhá, luyến láy chữ nghĩa tài tình, tạo cho bài thơ, khổ thơ một sự thăng hoa, bứt phá rất ấn tượng. Nó như liều thuốc chống buồn ngủ khi người tài xế đang dong xe trên một cung đường êm ả, vắng người…Và cách luyến láy, nhấn nhá này được Nguyễn Bính sử dụng nhiều ngay từ lúc khởi nghiệp thơ cho mãi đến những năm về sau.







PHẠM KHẢI

Cùng với thời gian, càng ngày tôi càng nhận ra tầm vóc lớn lao của nhà thơ Nguyễn Bính. Không, ở đây tôi không nói theo cách của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng khi ông nhận xét về thơ của cụ Đồ Chiểu, rằng “Trên trời có những vì sao có ánh sáng phi thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy và càng nhìn thì càng thấy sáng”. Với tôi, thơ Nguyễn Bính là nguồn nước giếng thơi trong mát. Ta chỉ thực sự thấy hết ý nghĩa của nó khi phải đối mặt với mênh mông sa mạc. Vâng, sa mạc của chữ nghĩa và sa mạc của hồn người.

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2011

SANG DAT NUOC TRIEU VOI


 SANG ĐẤT NƯỚC TRIỆU VOI

Đối với anh chị em văn nghệ sỹ ở mọi lứa tuổi, mọi chuyên ngành, những chuyến đi thực tế đến những vùng đất mới không chỉ đơn thuần là sự giao lưu học hỏi thêm những điều hay cái đẹp của xứ người mà cái lớn lao hơn là được mở rộng tầm nhìn, khơi dạy những cảm xúc giúp cho những sáng tác có tầm vóc hơn. Chẳng thế mà thừ thuở xa xưa nhà bác học Lê Quý Đôn đã nói: Nếu trong đầu không có ngàn vạn cuốn sách, trong mắt không có núi sông thiên hạ thì đừng nói chuyện làm văn chương.

Thứ Năm, 24 tháng 11, 2011


Sóng gió quanh 1 bài thơ


PHỎNG VẤN NHÀ THƠ "THƯỜNG DÂN"

Dư Hồng Quảng thực hiện


Ngưỡng mộ từ lâu, nhưng vừa rồi, tôi mới được gặp Nguyễn Long, người được bạn bè yêu mến gọi là "THƯỜNG DÂN". Người làm thơ, có bài thơ để gọi thay tên mình, Nguyễn Long thật hạnh phúc. Trước khi trò chuyện với anh, chúng ta cùng đọc lại bài thơ này:

Nguyễn Long

Thường dân

Đông thì chật, ít thì thưa
Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân
Quanh năm chân đất đầu trần
Tác tao sau những vũ vần bão giông.
Khi là cây mác cây chông
Khi thành biển cả, khi không là gì
Thấp cao đâu có làm chi
Cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi.
Ăn của đất, uống của trời
Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin
Ồn ào mà vẫn lặng im
Mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn.
Chỉ mong ấm áo no cơm
Chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành
Hoà vào trời đất mà xanh
Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.