Trang

Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2013

ĐÔI ĐIỀU VỀ THƠ LỤC BÁT



         
Lục bát là thể thơ cổ truyền đặc trưng Việt Nam. Vốn sinh ra từ nơi mái rạ, bờ tre, giếng nước, sân đình, lục bát gần gũi với lối sống, nếp nghĩ thật thà chất phác của người nông dân nên là loại thơ nôm na dễ hiểu, dễ nhớ. Nó bám rễ, ăn sâu vào đời sống tinh thần của người Việt tự thuở xa xưa, giống như chèo cổ, quan họ, rối nước, đàn bầu… những văn hóa dân gian có tự ngàn đời, không một loại văn hóa cung đình hay văn hóa ngoại lai nào đồng hóa được.
          Người Việt Nam vốn vị tình nên lục bát cũng là một thể thơ vị tình. Những điệu dân ca Bắc bộ, Quan Họ, những làn hát chèo như giao duyên, cò lả, mời trầu.. đã tựa hẳn lòng vào cái nền thơ sáu tám. Ông cha ta tự ngàn xưa đã hát Xẩm, hát rong bằng lục bát để khóc cười thái thế nhân tình.

Thứ Ba, 10 tháng 9, 2013

BÀI VIẾT CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU THÁI DOÃN HIỂU

          
Khoảng đầu năm 2005 nhà biên tập Thái Doãn Hiểu từ thành phố Hồ chí Minh ra Bắc, ông có về qua Thái Bình gặp và lấy tư liệu để viết về thơ Đỗ Trọng Khơi và thơ Nguyễn Long. Ông bảo đang làm tập Thi nhân Việt Nam hiện đại. Ông dự kiến chọn được gần 200 cây bút thơ từ thời chống Pháp đến nay của cả nước để đưa vào tập. Ở Thái Bình có hàng trăm cây bút thơ nhưng ông chỉ chọn giới thiệu hai người. Cuối năm 2007 ông điện ra nói đã viết xong bài về thơ mình và sắp xuất bản tập Thi nhân VN và gửi cho mình bài viết này. Sau đó nghe nói tập sách của ông đã được xuất bản nhưng mình chưa được nhìn thấy lần nào. Nay mới có thời gian tập hợp và đưa bài viết của ông lên blog.
          Mình làm thơ tay trái, thơ phú lại phọt phẹt mà được một nhà nghiên cứu biên tập có uy tín như ông biết đến lại đưa lên sách nữa thì lấy làm may mắn và biết ơn tác giả nhiều nhiều lắm. (NGUYỄN LONG)


THÁI DOÃN HIỂU

THƯỜNG DÂN LO NỖI KIẾP LÀNG

         
Nhà biên tập THÁI DOÃN HIỂU
Bước sang thế kỷ XXI, từ quê lúa Thái Bình, Nguyễn Long đã rất ấn tượng khi trình chính giữa làng thơ bằng tất cả vẻ độc đáo không lẫn vào ai của mình. Anh chơi khá hay, độc một điệu lục bát, độc một đề tài làng quê và người quê. Nguyễn Long giống như một cây đàn độc huyền sành điệu.
          Nguyễn Long, Long là rồng. Một con rồng thơ lạ đang vút lên sau lũy tre làng.

          * * *
         
          Nguyễn Long tâm sự với chúng tôi: Anh sinh ra và lớn lên ở làng quê. Tuổi thơ nửa ngày đi học, nửa ngày chăn trâu cắt cỏ, bốc bùn. Học xong cấp 3 (PTTH) trường huyện là vào thẳng ngay quân ngũ. Chiến đấu ở chiến trường Bắc Quảng Trị, Tây Nguyên bốn năm, mặc áo lính đeo quân hàm thiếu úy, sau chuyển ngành về công tác ở bộ Giao thông vận tải 8 năm. Đang học dở đại học Giao thông năm thứ tư thì bỏ sang Đức học nghề và kiếm tiền 10 năm. Năm 1988 về nước làm báo ở tạp chí Văn nghệ Thái Bình cho tới khi nghỉ hưu.
          Về cuộc sống gia đình anh có hai con một trai, một gái. Bố là nhà báo Nguyễn Văn ở Thái Bình đã nghỉ hưu (mất đầu năm 2013). Mẹ là nông dân nhưng mê đọc truyện Kiều và truyện Tầu. Các anh chị em trong gia đình đều là công nhân viên chức nhà nước nhưng say mê văn chương, nhà có năm người là hội viên Hội VHNT Thái Bình. Bản thân Nguyễn Long cũng mê văn chương từ nhỏ, nhưng ngoài 40 tuổi mới chuyên chú tới thơ. Lý do cũng đơn giản: Trước đó chỉ viết báo tay trái bởi nghĩ văn chương là thứ cao siêu không dám động vào. Sau đọc văn chương cả nước, thấy quá nhiều văn thơ dở, tự nhủ mình làm được hơn thế và mới cầm lấy bút.

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

TƯ DUY CỦA NGƯỜI VIỆT

VƯƠNG TRÍ NHÀN

Nguyễn Công Hoan trong hồi ký Đời viết văn của tôi(1971) có nhiều đoạn tự thú về sự làm bừa làm bậy đã xẩy ra trong đời mình. Đại khái ông kể là lúc ra học tiểu học ở Hà Nội cần giấy khai sinh, nhưng ngại về làng bên Bắc Ninh làm tận gốc, liền nhờ ông chủ nhà trọ làm hộ. Ông này bảo hai người bạn làm chứng, rồi kiếm cành cau với vài hào bạc đưa lý trưởng Hàng Trống. Vài ngày sau, ông Kép Tư Bền trong văn chương tương lai có ngay tấm giấy khai sinh và nghiễm nhiên thành người sinh ở Hà Nội.

Câu chuyện được kể chỉ cốt để phô ra một tình trạng gian dối phổ biến trong sinh hoạt đương thời. Như một thứ thỏa thuận ngầm, mọi người chia sẻ một cách sốngthực giả tùy tiện . Không ai buồn quan tâm tới sự chính xác của các con số, không muốn và không có nhu cầu hiểu biết thực thụ về chính mình cũng như hoàn cảnh quanh mình. Một thứ khinh bạc bất cần đời bao trùm cả xã hội.

Chủ Nhật, 25 tháng 8, 2013

VĨNH BIỆT NHÀ THƠ LÊ THÁI SƠN

Qua trang web của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo được tin anh Sơn từ trần, buồn quá. Mình là đàn em, là người  ngoại đạo văn chương, được biết và quen anh Sơn (nhà thơ Lê Thái Sơn) đã nhiều năm là chủ tịch Hội LHVHNT Nghệ An đã là điều may mắn, tuy không gần gũi nhưng anh Sơn quý mình và lần nào ra Thái Bình cũng tìm đến nhà mình chơi. Mình nhớ nhất năm 2003 khi anh Sơn về Thái Bình dự lớp tập huấn một tuần. Có một tối Hội VHNT và Sở Văn hóa Thái Bình tổ chức đêm nhạc Trần Hoàn ở nhà VH Lao động Thái Bình, ngồi xem biểu diễn ca nhạc chưa nóng chỗ, anh Sơn bảo mình: Về nhà em pha chè uống ngồi nói chuyện hay hơn. Thế là mấy anh em bỏ về. Anh Sơn thích những thứ dân giã, nên ở Thái Bình sáng nào anh cũng hẹn mình đi ăn bún cá và bữa ăn nào cũng chỉ ăn cơn trộn với mắn cáy (là hai thứ đặc sản của TB) chứ không thích món gì. Mình nhớ nhất là năm 2004, đoàn VNS Thái Bình đi thực tế miền Trung, anh Sơn điện bảo mình: Anh đang đi hội thảo ở Huế, Nếu Long có đi cùng đoàn Thái Bình thì anh mới bỏ hội thảo về chơi với em chứ nếu em không đi thì anh không về đón đoàn TB đâu. Thịnh tình của anh Sơn làm mình cảm động và nhớ mãi.  Mình thích nhiều bài thơ của anh Sơn, nhất là bài Thơ vui tặng bạn đạp xích lô, mình đã thuộc làu từ khi chưa biết nhà Sơn Lê Thái Sơn là.. Nay chia tay anh về cõi vĩnh hằng xin in lại  bài thơ trên của anh thay cho nén tâm nhang.

Thơ vui tặng bạn xích lô
Thuộc đường như thuộc bàn tay
Nhắm mắt cũng biết ngõ này, hẻm kia
Phố nào có mấy quán bia
Có bao "ông lớn" thường chìa đít xe 
Ngủ mà như vểnh tai nghe
Tiếng còi những chuyến tàu về ngoài ga 
Lên xe nào cậu, nào bà
Valy trẻ, thúng mủng già như nhau
Áo đủ mốt, mũ đủ màu
Nước hoa, nước mắm, xăng dầu đều quen 
Ra đường thẳng cánh đua chen
Vòng vo, luồn lách mà lên với người
Nặng, nhẹ cũng một dằm ngồi
Nhìn mặt, đặt giá nửa lời là xong 
Khi thì chẳng miếng lót lòng
Bạn bè nhậu nhẹt chúng không thèm mời
Khi thì xả láng cuộc chơi
Giá ai có bán gan trời cũng mua 

Trăm lần sắm lễ lên chùa
Thật tâm mà khấn như đùa cả trăm
Cúi xin đức Phật từ tâm
Kiếp sau lại bắt con cầm càng xe.

Thứ Bảy, 10 tháng 8, 2013

Nghề văn không sang trọng


Trần Đình Sử 

Nhà NCLL Trần Đình Sử
Cách đây không lâu có người cao hứng tung ra  một ý kiến ngộ nhận: “Nghề văn là nghề sang trọng.” Bao nhiêu người nói theo. Thế rồi ảo tưởng, hiếu danh, thế rồi số người viết văn, làm thơ tăng vọt, thế rồi số hội viên hội nhà văn ngày một tăng. Người sắp hàng chờ vào hội cũng rất đông.

Tôi không có ý phản đối ai làm nghề văn, tôi cũng không nghĩ rằng mọi người vào hội đều háo danh. Tôi chỉ muốn nói nghề văn không phải là nghề sang trọng, nhất là vào thời hiện đại.

Thứ Hai, 22 tháng 7, 2013

NGƯỜI ĐẢNG VIÊN XUỐNG TÓC

Ký của NGUYỄN LONG

               
Là một Đảng viên được kết nạp và phát triển trong quân đội nhưng con đường binh nghiệp lại không thuận thàng với chàng thanh niên Hoà vốn yêu đạo Phật từ nhỏ. Xuống tóc rồi phải bỏ sinh hoạt Đảng nhưng cái chất Đảng viên và cái tác phong miệng nói tay làm đã thành cách sống của sư Hoà khi sống ở nơi cửa Phật. Hiện nay Đại đức Thích Thanh Hoà đã là Trưởng ban trị sự, chánh thư ký Ban trị sự hội Phật giáo tỉnh Thái Bình. Ông là đại diện cho những cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các tôn giáo và là một trong những nhân tố mới của Phật giáo Thái Bình trong phong trào Đại đoàn kết toàn dân và học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

CON CHỮ LÀNG CHÀI

Bút ký của NGUYỄN LONG

         
Giống như những làng chài khác quanh năm lênh đênh sông nước, cảnh nghèo khó, lam lũ, bệnh tật, đông con... bám vào người dân chài từ đời này sang đời khác. Song làng chài thôn Cao Bình (xã Hồng Tiến, huyện Kiến Xương, Thái Bình) còn một nỗi khổ nữa là thất học. Chuyện tưởng như đùa mà có thật, một làng nằm giữa vùng đất học, trong cái nôi văn hoá sông Hồng mà đến đầu thế kỷ XXI phần lớn người làng vẫn mù chữ. Cách đây vài chục năm đã có những lớp học "chân sóng" được mở ra nhưng mỗi con chữ đến được và nhất là trụ lại được với làng chài phải qua bao nhiêu nổi chìm  sóng gió.

         
          Năm nay làng chài Cao Bình dự định kỷ niệm lần 92 năm sống ở đất Hồng Tiến, Kiến Xương. Đấy là nghe truyền khẩu mấy đời chứ thực chất chẳng ai biết ngày tháng năm nào các cụ tổ vạn chài về đây cắm sào đậu lại thành làng. Vì cả làng từ xưa không ai biết chữ nên không một nhà nào có gia phả hay giấy tờ ghi lại sử  làng. Gọi là làng chứ đến nay mới chỉ có vài nóc nhà lèo tèo nằm sát con đê chắn sóng sát sông Hồng gần như biệt lập với xã hội bên ngoài. Đấy cũng là thành quả của mấy cuộc vận động làng chài an cư lạc nghiệp của các cấp chính quyền huyện xã từ mấy chục năm nay. Trước đây mảnh đất hờ của làng chỉ lênh đênh trên cái bến nước thôn Cao Bình mà gần một trăm năm nay người làng chài truyền đời nhau gọi đấy là quê. Cả làng có hơn 100 hộ giáo dân từ ngày xửa ngày xưa chỉ sống bằng nghề thuần sông nước. Cái làng bến nước ấy thực chất chỉ là nơi dân làng đăng ký hộ khẩu và một năm đôi ba lần các nhà tụ lại với nhau vào những kỳ lễ Giáng sinh, Phục sinh, lễ Quan thầy là những ngày đạo trọng, còn những ngày thường bến sông vắng ngơ vắng ngắt. Dân làng chài phiêu dạt tứ xứ làm ăn. Thuyền của làng Cao Bình hầu hết là thuyền nhỏ nên không nhà nào có khả năng đánh bắt xa bờ. suốt đời chỉ mon men ở các cửa sông. Có đi xa lắm  cũng chỉ quang quẩn ở các vùng ven bờ từ Thanh Hoá đổ ra đến Quảng Ninh, Hải Phòng. Bó bện với sông nước bao đời nhưng không mấy hộ của làng thoát khỏi cảnh nghèo khó. Chẳng ai dám nghĩ đến chuyện mua đất làm nhà để có nơi đi về khi trời dông biển động hay nghỉ ngơi lúc tuổi già không còn cầm nổi mái chèo, tay lưới. Cuộc sống lênh đênh sông nước, con thuyền là nhà, cắm sào đậu lại nơi đâu là quê không biết bao nhiêu cơ cực. Anh Hoàng Văn Hải hiện là trưởng thôn cả nhà đã lên bờ được mươi năm nay sinh ra trong một gia đình đã mấy đời chài lưới cho biết: Con thuyền chỉ rộng năm bẩy mét vuông mà nhiều nhà cả ba thế hệ hơn chục người chen chúc nhau sinh sống chưa kể đến có khi còn nuôi cả chó mèo và lợn gà nữa. Với cánh đàn ông cuộc sống trên thuyền dù vất vả, bí bích đến đâu cũng chịu đựng được. Nhưng với đàn bà, trẻ em thì trăm nỗi khổ cực. Bản thân anh cũng như nhiều người làng sinh ra trên biển. Khi mẹ anh sinh anh ở ngoài biển Hải Phòng, cha mới vội đưa vào bờ nơi gần nhất nhờ bà con địa phương giúp đỡ. Ba ngày sau khi thấy mẹ tròn con vuông cả nhà anh lại xuống thuyền ra khơi. Có những trường hợp đau đẻ gặp lúc thuyền đang ở xa không kịp cập bờ thì người trên thuyền phải tự đẻ, tự đỡ. Trẻ con từ khi sinh ra đã bị "nhốt" trên thuyền, nhưng thương tâm hơn là không mấy năm làng chài không có một vài đứa trẻ bị nước cuốn đi. Có gia đình như nhà anh Nguyễn Văn Để bốn năm liền có hai đứa con bị chết đuối. Cuộc sóng lênh đênh sông nước cuốn làng chài vào cái vòng luẩn quẩn nghèo khó, đông con và đặc biệt là thất học từ đời nọ đến đời kia.