Trang

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2020

THƠ HAY THÁI BÌNH

 


THƠ HAY THÁI BÌNH

Thế nào là thơ đã khó, thế nào là thơ hay còn khó hơn nhiều. Đã bao nhiêu lời bàn kim cổ mà vẫn không có điểm dừng.

 Nay nhân kỷ niệm 50 năm thành lập Hội VHNT Thái Bình ( 1970 – 2020), tôi thử chọn thơ hay Thái Bình cũng chẳng có gì làm chuẩn, chỉ căn cứ vào hai điều:

-         Thơ Thái Bình là thơ của những người sống và làm việc ở Thái Bình. Những người quê Thái Bình đã sinh sống và sáng tác ở nơi khác  vài  ba chục năm trở lên và những người đã gắn bó với văn chương TB nhưng  hiện không ở TB nữa như: Trần Anh Thái, Đặng Hấn, Nguyễn Linh Khiếu, Kim Chuông, Bùi Hoàng Tám, Đàm Chu Văn...  thì không tính là thơ TB. Những người quê các tỉnh khác nhưng đã sông, làm việc và viết thơ ở TB vài ba chục năm nay, hơi thỏ của thơ vẫn là chất TB thì  gọi là thơ TB.

-         Thơ hay là do cấ nhân tôi cảm nhận và lựa chọn chứ không dựa trên thứ bậc, điều kiện nào.

Khi giới thiệu các tác phẩm thơ cũng vậy, không xếp thứ  bậc trên dưới trước sau, tiện ai thì giới thiệu trước, người chưa có đủ văn bản tài liệu thì giới thiệu sau, và đã là hay thì cũng không  cho là ai hơn ai kém cả.

Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2020

SỨC SỐNG MÃNH LIỆT CỦA LỤC BÁT

 SỨC SỐNG MÃNH LIỆT CỦA LỤC BÁT

(Chu Văn Sơn)

Nếu chọn loài cây Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn phải là cây tre.

Nếu chọn loài hoa Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là hoa sen.

Nếu chọn trang phục Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là chiếc áo dài.

Nếu chọn nhạc khí Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là cây đàn bầu…


Cũng như thế, nếu chọn trong nền thơ ca phong phú của ta một thể thơ làm đại diện đi dự cuộc giao lưu thơ toàn cầu, đó hẳn phải là Lục bát.

Người Âu Tây tự hào về thể Sonnê, người Trung Quốc tự hào về thơ Đường luật, người Nhật Bản tự hào về thơ Haiku…, thì người Việt Nam có quyền tự hào về thể Lục bát. Lục bát là niềm kiêu hãnh của thơ Việt. Nếu tâm hồn một dân tộc thường gửi trọn vào thi ca của dân tộc mình, thì lục bát là thể thơ mà phần hồn của dân Việt đã nương náu ở đó nhiều nhất, sâu nhất. Có thể nói, người Việt sống trong bầu thi quyển lục bát. Dân ta nói vần nói vè chủ yếu bằng lục bát. Dân ta đối đáp giao duyên, than thân trách phận, tranh đấu tuyên truyền, trào lộng giải trí chủ yếu bằng lục bát. Và dân ta hát ru các thế hệ, truyền nguồn sữa tinh thần của giống nòi cho lớp lớp cháu con cũng chủ yếu bằng lục bát… Lục bát là phương tiện phổ dụng để người Việt giải toả tâm sự, kí thác tâm trạng, thăng hoa tâm hồn. Gắn với tiếng Việt, gắn với hồn Việt, thơ lục bát đã thuộc về bản sắc dân tộc này.

ĐUỔI KỊP MÔNG CỔ

Một bài viết hay không rõ tác giả là ai, thấy hay nên tôi đem về nhà đọc

 

ĐUỔI KỊP MÔNG CỔ

1.

Tôi hỏi 100 người, thì đến 97 người bảo: Mông Cổ ấy à? Nghèo lắm hả? Tới làm chi !...Sai.

Khái niệm về một nước Mông Cổ nghèo khó ngự trị trong đầu óc dân Việt Nam từ xa thời cùng phe XHCN. Nhà văn Tô Đức Chiêu bảo tôi: "Tao đã đi Mỹ, Ai Cập, Ả rập xê út, Nga và Đông Âu, không kể châu Á như Tàu, Thái... Tức là gần hết thế giới, nhưng khi đi Mông Cổ, mới thấy mình khám phá ra một thế giới mới, nếu có dịp, tao đi 2 -3 lần nữa".

Tôi thấy thế nên cũng đú theo, đi Mông Cổ một chuyến.

(Mở ngoặc ngay là, khi anh "du lịch" đến đâu, anh phải tự vấn ta đến đấy để làm gì, muốn biết gì. Nói chung là nên đi phượt. Tôi có bài học kinh nghiệm về việc này, có 1 cậu trẻ đi cùng đến thảo nguyên Mông Cổ, cậu thốt lên chán nản: Ơ, đâu cũng như đâu, mênh mông cả, chả thấy cái gì.

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2020

NGUYỄN DUY, THI SỸ THẢO DÂN


Chu Văn Sơn

(Toquoc)- Nguyễn Duy là ai ? Tác giả của hàng loạt thi phẩm sáng giá như: Tre Việt Nam, Đò Lèn, Hơi ấm ổ rơm, Ánh trăng, Tuổi thơ, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa, Lời ru đồng đội, Mưa trong nắng nắng trong mưa, Sông Thao, Ông già Nam Bộ, Xẩm ngọng v.v... là ai ?

1. Tìm tên

http://toquoc.gov.vn/chuyenmuc/vanhocquenha/images/News/20070811AWRH054.jpg

Nhà thơ Nguyễn Duy

Gần đây, cứ thấy giữa đô thị bỗng mọc lên những nhà gianh, nhà sàn, nhà rông với tranh tre, nứa lá, gỗ lạt thô mộc. Người ta bỗng thích của đồng rừng, đồng bãi. Những thứ như lươn cua ốc ếch, kì đà kì nhông, rau bí rau lang... thành đặc sản tuốt. Đến nỗi người quê có thể

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2020

Khoa học không thể giải câu đố của ý thức

Càng nỗ lực khám phá bí ẩn của ý thức, các nhà khoa học càng nhận ra rằng khoa học bất lực trong việc giải mã thách đố này của tự nhiên. Năm 2016, tạp chí Scientific American loan báo“Nhà vật lý thông minh nhất thế giới Edward Witten cho rằng khoa học không thể phá vỡ bí mật của ý thức”. Đây là tin buồn cho các nhà tiến hóa, nhưng là tin vui cho những người tin vào luận đề của Descartes cho rằng ý thức là một hiện thực phi vật chất vượt quá tầm với của khoa học…
Edward Witten: Khoa học không thể phá vỡ bí mật của ý thức
Edward Witten, người được xem là nhà vật lý thông minh nhất thế kỷ 21 thừa nhận: “Khoa học không thể phá vỡ bí mật của ý thức” (Ảnh: Institute for Advanced Study)
Vấn đề bản chất của ý thức quan trọng hơn rất nhiều so với ta tưởng, bởi lẽ ý thức là đặc trưng cốt lõi của sự sống. Muốn giải thích sự sống bằng những cơ chế thuần túy vật chất như thuyết tiến hóa Darwin chủ trương, nhất thiết phải giải thích được bản chất vật chất của ý thức ─ phải trả lời một cách dứt khoát “ý thức là cái gì?”.

Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2020

MỘT SỐ BÀI KÝ TIÊU BIỂU CỦA NGUYỄN HỒNG LAM

Nguyễn Hồng Lam
 

Tên thật Nguyễn Đức Vinh,

 Sinh năm Nhâm Tý, 1972, tháng Quý Xuân, tại Trung Lễ, Đức Thọ, Hà Tĩnh

Quế  quán: Thạch Kim, Thạch Hà, Hà Tĩnh.Tốt nghiệp ĐHTH TP HCM, khoa Ngữ Văn, năm 1993. Nhà báo. Nhá văn, Hội viên Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh. Hiện làm việc tại báo An Ninh Thế giới.

Tác phẩm đã xuất bản:

- Phục Thiện, truyện ngắn, 1996

- Đường đời trong lòng tay, Truyện ký, 1998

- Người Sài Gòn đánh Mỹ, 1999

- Chiếc cầu có đám ma đi qua, truyện ngắn, 2000

- Người của giang hồ, 2004, 2006

- Vụ án Đồi Hoa Mai, 2005

  một số sách in  chung khác...

Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2020

NĂM THI PHẨM ĐƯƠNG ĐẠI CỦA THƠ THÁI BÌNH

Đỗ Trọng Khơi

Tôi đang làm một tập bình thơ, bình các bài thơ hay cổ/cận và hiện đại. Trong tập tôi dành một phần nhỏ, cuối tập chọn/bình 5 thi phẩm của 5 tác giả đương đại quê Thái Bình. Xin trân trọng gt cùng bạn đọc).





THƯỜNG DÂN

Đông thì chật, ít thì thưa
Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân
Quanh năm chân đất đầu trần
Tác tao sau những vũ vần bão dông

Khi làm cây mác cây chông
Khi thành biển cả khi không là gì
Thấp cao đâu có hề chi
Cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi

Ăn của đất, uống của trời
Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin
Ồn ào mà vãn lặng im
Mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn

Chỉ mong ấm áo no cơm
Chắt chiu dàng dụm thảo thơm ngọt lành
Hoà vào tời đất mà xanh
Vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.
NGUYỄN LONG

Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2019

TẢN MẠN VỀ CON ĐƯỜNG THƠ

NGUYỄN LONG

CON ĐƯỜNG THƠ, ĐÔI ĐIỀU TẢN MẠM

Tôi thường nghĩ: Con đường thơ có cánh cửa rất rộng, hình như rộng đến không cùng nên thời nào cũng có ngàn vạn người bước chân vào. Hoặc ai muốn đến muốn đi lúc nào cũng được.
Có người bảo thơ là thứ linh đơn của tâm hồn con người. Nó trong vắt và tinh khiết như nước mạch đầu nguồn, nhưng làm say đắm và mê hoặc con người bởi có chất linh men, nên không phải ai uống cũng được. Người tinh tế, cao sáng uống vào càng cao sáng tinh tế hơn. Người không cao sáng tinh tế uống vào chẳng có tác dụng gì. Và cái chất linh men thơ ấy không phải là không có những phản ứng phụ như bất cứ dược tố nào. Người ta gặp ở nơi thơ đủ những con người. Có nhiều người thơ thực thụ, họ coi thơ là thứ có thể cứu rỗi linh hồn con người nên cả đời cặm cụi tiếp theo tiền nhân làm ra thứ linh dơn của con người. Lại có không ít người nhầm tưởng thơ cũng như nước lã, muốn làm ra bao nhiêu, muốn uống bao nhiêu cũng được và mắc cái bệnh coi mình là vĩ nhân trước thiên hạ

Thứ Tư, 4 tháng 12, 2019

CẢM NHẬN VỀ THƯỜNG DÂN CỦA ĐỖ LÂM HÀ

THƯỜNG DÂN
NGUYỄN LONG

Đông thì chật, ít thì thưa
chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân
quanh năm chân đất đầu trần
tác tao sau những vũ vần bão giông


Khi làm cây mác cây chông
khi thành biển cả, khi không là gì
thấp cao đâu có hề chi
cỏ ngàn năm vẫn xanh rì cỏ thôi

Ăn của đất, uống của trời
dốc lòng cởi dạ cho người mình tin
ồn ào mà vẫn lặng im
mặc ai mua bán nổi chìm thiệt hơn

Chỉ mong ấm áo no cơm
chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành
hòa vào trời đất mà xanh
vô tư mấy kiếp mới thành thường dân.

LỜI BÌNH CỦA NHÀ GIÁO ĐỖ LÂM HÀ

Khi tôi viết những lời cảm nhận này, bài thơ Thường dân của Nguyễn Long đã xuất hiện trên thi đàn đất nước 16 năm (2003 – 2019), đã vượt qua cái mức thử thách của khoảng thời gian khắt khe nhất: “Mười năm năm ấy biết bao nhiêu tình” để tồn tại lan thấm vào tâm hồn bạn đọc về phía tương lai.

Thứ Năm, 21 tháng 2, 2019

BÀI BÌNH THƠ VẪN CHUYỆN THỊ MẦU CỦA ĐẶNG TOÁN


VẪN CHUYỆN THỊ MẦU
(Thơ Nguyễn Long)

Kẻ chê người trách Thị Mầu
Trăm năm vẫn chuyện miếng trầu mặn vôi
Khuất sau miệng lưỡi người đời
Đâu điều oan nghiệt, đâu lời thị phi.

Yêu người yêu đến cuồng si
Nghĩ đâu cửa Phật trơn lì rêu xanh
Muốn trồng cây cải không thành
Cái hôm thất vọng thân đành gió đưa.

Trăm người ăn vụng táo chua
Chỉ riêng em mắc lưới thưa vạ làng
Bao nhiêu thước ngọc khuôn vàng
Vênh vao đo những trái ngang lỡ lầm.

Một thời oan tiểu Kính Tâm
Đã về thành phật Quan âm trên chùa
Sân đình mỗi trận gió khua
Trái oan lăn lóc chát chua Thị Mầu.

Lời bình của Đặng Toán

Nếu nói Nguyễn Long bênh vực Thị Mầu thông qua bài thơ này thì cũng
đúng. Bởi nếu không, ông đã chẳng tốn công tìm trong trăm ngàn điều chê
trách của người đời với Thị Mầu, để mà phân định “ đâu điều oan nghiệt,
đâu lời thị phi” như thế.
Tình yêu từ ngàn đời nay vẫn luôn là một trạng thái tình cảm vô cùng phức

BÀI BÌNH THƠ VỀ LÀNG CỦA ĐẶNG VĂN TOÀN

VỀ LÀNG
Nguyễn Long
Dẫu đi cuối đất cùng trời
Về làng ta vẫn là người nhà quê
Vẫn màu cỏ mướt ven đê
Từ thời chân đất nón mê đến giờ
Đã qua trăm bến ngàn bờ
Giờ về bến nước tuổi thơ vẫn đầy
Bao mùa mưa giật bão giây
Cánh cò trắng muốt còn bay ngang đầu
Trăm lần triết lý nông sâu 
Để ta về lại với câu thật thà
Mây tìm về phía trời xa
Ta bơi ngược gió nhận ra đường làng./.

..............................................................
Lời bình:
Về làng đã từng đoạt giải A cuộc thi thơ lục bát trên báo Văn nghệ ( 2002 – 2003). Nó giữ nguyên được vẻ chân mộc, hiền lành của giọng thơ Nguyễn Long. Tình thơ tươi, đằm trong vần điệu lục bát êm ái và nhuần nhuyễn.
Hệ thống các hình ảnh "chân đất nón mê" – "bến nước tuổi thơ" hay "cánh cò trắng muốt" rất đậm, rất tiêu biểu, thấp thoáng được cái mạch ca dao thiết tha nồng thắm, nó chứng tỏ lòng người tuy sống xa quê nhưng hồn quê, tình quê không bao giờ phai nhạt. Chỉ một câu "Vẫn màu cỏ mướt ven đê" đủ nói lên thái độ thương yêu, trìu mến của tác giả, đủ làm cho người đọc rưng rưng cảm động trước cái xanh non, tươi nguyên của sự sống, cuộc sống diệu kỳ.

Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2017

THỜI CỦA VĂN CHƯƠNG

THỜI CỦA VĂN CHƯƠNG
                   NGUYỄN LONG
  (Viết nhân Đại hội Văn học NT Thái Bình lần thứ X 
Trong lịch sử hàng nghìn năm, văn chương luôn được coi là quan trọng nhất, là lĩnh vực đứng đầu thiên hạ. Người xưa thi chọn người tài chủ yếu thi văn chương chữ nghĩa. Người làm vua quan, phần lớn đều văn hay chữ tốt. Những tác phẩm bất hủ trong kho tàng văn học dân tộc như: bài thơ Nam quốc sơn hà nam đế cư tương truyền là của Lý Thường Kiệt thời Lý, Hịch tướng sỹ của Trần Quốc Tuấn thời Trần, Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi thời Lê…đều là những đấng bậc quân vương nắm trong tay vận mệnh đất nước. Tới nhà Nguyễn, thời Tự Đức, cái ông vua “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/ xếp tàn y lại để dành hơi…” còn lập lên Hội thơ Thập nhị bát tú tự mình đứng đầu. Thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ông Trường Trinh là Tổng bí thư Đảng vừa là nhà thơ Sóng Hồng, ông Lê Đức Thọ trưởng Ban tổ chức Trung ương quyền nghiêng thiên hạ vẫn làm Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Thời Chống Mỹ văn chương vẫn còn linh thiêng, được xã hội trọng vọng. Ông Phạm Tiến Duật chỉ là tài thơ, khi vào chiến trường Trường Sơn được tướng Đồng Sỹ Nguyên cho đặc cách hưởng chế độ như một vị tướng. Khi ông ra Bắc được các ủy viên Bộ chính trị thay nhau mời cơm ở nhà riêng. Trên còn có ý xắp xếp cho ông chiếc ghế Bí thư Đoàn toàn quốc, ngang hàm bộ trưởng…   Nhưng từ thời cơ chế thị trường, nhất là đôi chục năm trở về đây số lượng người làm văn làm thơ càng đông lên, các tổ chức hội hè văn bút càng to ra và nở rộ thì văn chương ngày càng xuống cấp, càng bị xã hội thờ ơ, rẻ rúng. Không còn mấy người hào hứng với nghiệp văn chương.

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2017

CHÂN DUNG NHÀ THƠ VIỆT HIỆN ĐẠI

Rất nhiều người đã vẽ chân dung những nhà thơ Việt hiện đại, Đỗ Hoàng cũng làm theo kiểu riêng ông, không xếp loại sau trước, không phân biệt thế hệ tuổi tác, chắc ông chỉ thể hiện cảm nhận riêng của mình. Bởi thấy có nhắc đến mình, một kẻ làm thơ dở mùa nêm in lại cho vui. (nguyenlong - theo trannhuong.com)

Đỗ Hoàng


PHẦN ( I )


1 - Hữu Thỉnh chẳng còn bài nào,
Xe tăng vấp phải tường rào thi ca!

2 - Chế Lan Viên quá tài ba
Cách tân, truyền thống thật là tuyệt luân!

3 - Phùng Cung chịu bao phong trần
Để thơ ca Việt đến gần Trời cao!

4 - Cũng nên nhắc bác Nguyễn Bao
Cùng em Định Hải đã vào văn chương!

5 - Phùng Quán tính cách khác thường
Lưu danh sử sách cũng đương luận bàn!

6 - Lê Đạt là bậc siêu phàm
Công an đặt bục phải mang suốt đời!

7 - Hoàng Trung Thông chỉ mấy nhời,
Bên ta cũng thích, bên người cũng ưa!

8 - Trần Dần chẳng phải tay vừa
Nô ben cầm chắc ngàn xưa ai tày!

9 - Nguyễn Hữu Đang sánh trời mây,
Mặc cho hỗn thế đọa đày nhân gian!

10 - Hoàng Cầm tình ái đa mang
Tài thơ số một trên toàn Đông Dương!

11- Lưu Trọng Lư không tầm thường
Tiếng Thu là đủ khơi nguồn nghìn thu.

12 - Nhạt nhàn văn xuôi Đỗ Chu
Nhảy qua thơ phú làm ngu thi đàn!

13- Buồn cho anh Vũ Từ Trang
Buôn gỗ sung sướng lại quàng thêm thơ.

14 - Mai Phương chẳng có mộng mơ
Ngợi ca chủ mỏ đem thơ đổi tiền!

15 - Phạm Tiến Duật cổ động viên
Để bao máu lính dính liền chân mây!

16 - Lê Thanh Nghị dân trai cày
Phê bình, thơ phú chẳng say lòng người!

17- Hoàng Nhuận Cầm đáng bôi vôi
Coi cuộc đánh đấm như chơi chắt chuyền!

19 - Thơ vô lối Nguyễn Khoa Điềm
Nên đưa tất cả búa liềm lại phang!

20 - Hương thầm của Phan Thanh Nhàn
Xóm đê nhìn lại chỉ toàn cỏ rau!

21 - Trúc Thông đau chữ, đau câu
Bờ sông vẫn gió từ lâu nhạt nhèo!

22 - Nguyễn Quang Thiều đã phăng teo
Sính làm Vô lối, cố đeo làm gì!

23 - Mai Văn Phấn cũng bỏ đi
Sở Đoan, Thuế vụ thư thi ai màng!

24 - Rất lạ chàng Hồng Thanh Quang,
Hang hùm, nọc rắn vẫn vang thơ tình!

25 - Nguyễn Trọng Tạo tỉnh tình tinh
Nhạc thì một phách, thơ đinh đóng hòm!

26 - Nguyễn Đình Chính vượt đạn bom,
Đi tìm lửa khéo bị chơm ổ gà

27 - Trần Trương đừng nhắc tên ra,
Kẻo mà xấu hổ thơ ca nước mình!

28 - In sa ra - gã Chăm tinh
Tiếng Việt nói ngọng còn bình thi thư!

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

BẠN MUỐN DUY TRÌ "LỄ" THEO CÁCH NÀO?

(Theo TỄU blog)

Chúc Tết ông bà trong gia đình nhà Nho thời xưa.



Nguyễn Xuân Vinh
10-4-2017
Năm 2012, khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” đã được bàn sôi nổi trên mặt báo và trên các trang mạng xã hội, rồi không ai bảo ai, các trường học đã tự hạ khẩu hiệu này xuống. Đến nay, sau 5 năm, khẩu hiệu này lại được một số người bàn đến và cho rằng do đạo đức trong xã hội ta đang suy đồi nên cần khôi phục lại khẩu hiệu đó.


Hãy khoan bàn việc khôi phục khẩu hiệu trên các cổng trường. Trước tiên, cần hiểu thống nhất nghĩa của từ “Lễ” là gì rồi bàn tiếp, có nên duy trì và duy trì bằng cách nào. Các bạn Nguyễn Văn NghệLại Nguyên ÂnHà Văn Thùy đều chưa giải thích nghĩa của từ này.
Từ điển Tiếng Việt phổ thông giải thích từ “Lễ” và các cụm từ có từ “Lễ” như sau:

Thứ Hai, 23 tháng 1, 2017

CHUYỆN VÀO HỘI NHÀ VĂN

CHUYỆN LÀNG VĂN NGHỆ

Trần Hồng Giang
Thứ sáu ngày 20 tháng 1 năm 2017 2:13 PM
Giờ nhà cháu kể chuyện mình làm đơn vào hội nhà văn trung ương nhá. Sau khi ra đầu sách thứ 7, một số cụ thân thiết xui nhà cháu đâm đơn vào hội nhà văn cho oách. Nhà cháu bảo, thôi cũng chả cần thiết, cái thân xác nhà em đã thế này thì có đắp thêm cái danh gì vào rồi cũng chỉ đến thế, chả dọa được ai đâu! Rồi nữa, nhỡ có chả may được vào hội nhà văn thật thì em cũng có đi họp hành đàn đúm gì được đâu, khéo không chừng rồi lại phiền ra. Trình bày thế rồi nhưng các cụ ý vẫn nhiệt tình dụ dỗ, bảo: Đây đếch phải là chuyện có cái danh để lòe thiên hạ mà là nó như một sự ghi nhận công sức lao động của mình với văn chương bấy lâu nay, như một sự khẳng định con đường mình đã đang và sẽ đi…v.v… Rồi xong, thế là thằng bé lại bùi tai gật đầu. Sau đó nhà cháu đem cái ý tưởng này đi tham khảo một số cụ khác thì cụ nào cụ nấy đều vỗ tay tán thưởng khiến cho tinh thần càng thêm phấn chấn. Ngay cả hỏi đến ông anh thần đồng Trần Đăng Khoa thì ngài cũng bảo: “Chú làm đơn đi. Anh giới thiệu chú!” Oh yeah! Thế là hết lăn tăn, thế là yên chí nhớn rồi. Cơ mà sau đó thì vì tế nhị nên nhà cháu không dám nhờ thần đồng ký giới thiệu mà nhờ đại ca Văn Công Hùng và đại tỷ Y Ban ký cho nó khách quan. He he

Thứ Năm, 15 tháng 12, 2016

ĐẠO GIA TÔ

Theo blog Nhuyễn Thông)

Đạo Gia Tô gốc ở Do Thái mà ra. Nguyên dân Do Thái (Juifs) ở về phía tây Tiểu Á Tế Á, xưa nay vẫn sùng phụng một vị thần Jehovah. Dân tin rằng thần Jehovah sáng lập nên trời đất và tạo thành ra muôn vật, sau lại tạo ra người theo như hình dung của thần, đàn ông thì gọi là Adam, đàn bà thì gọi là Eva, cho ở vườn cực lạc để cai quản các giống thú vật và được ăn các thứ quả, chỉ trừ ra không được ăn quả cây táo của thần cấm mà thôi. Đến sau, quỷ thấy người được sung sướng, mới xúi Eve ăn quả cây táo và đem cho chồng ăn nữa. Khi ăn rồi mới biết mình trần truồng là xấu xa. Đến lúc thần lại thăm vườn thì người ấy chạy đi trốn. Thần giận bèn đuổi người xuống phàm trần, để cho chịu những điều cực khổ, nhưng lại hứa rằng sau sẽ sai người xuống chuộc tội cho.

Ấy là những sự tôn tín của dân Do Thái. Dân Do Thái bị dân Ai Cập (Egypte) áp chế bắt đi làm nô lệ, chịu nhiều điều cực khổ. Mãi về sau mới có một ngưòi tên là Moise đem dân về xứ Gia Lộ Tát Lĩnh (Jérusalem) làm đền thờ thần Jehovah mà theo giữ lời thập giới. Có một đảng thầy tu giữ đền và cai quản dân. Trong bọn thầy tu thường có những người tiên tri gọi là Prophète, bảo dân Do Thái rằng: thần Jehovah sắp sai người xuống chuộc tội cho dân và cho dân được vinh hiển hơn dân khác.

Thứ Hai, 21 tháng 11, 2016

NƯỚC MỸ
(Thơ Nguyễn Long)

Nước Mỹ ở tận xa xôi
mà gần gụi với quê tôi thế này.

Đô la lên xuống ngày ngày
để quê tôi cũng vơi đày buồn vui.

Chẳng ai khiến, chẳng ai xui
nước Mỹ bầu cử quê tôi ngóng chờ.

Bao người ra ngẩn vào ngơ
lão Trăm sao thắng bà Cờ lin tơn?

Nhất quê mình, chẳng đâu hơn
mà dân tôi vẫn ngày đêm ước thầm
được sang nước Mỹ một lần
để sờ… đầu gối tượng thần Tự do.

Tháng 11/2016
                  


                          

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2016

ĐỌC LẠI MỘT BÀI KÝ

Phùng Gia Lộc:
Cái đêm hôm ấy... đêm gì? 

(đăng trên báo Văn Nghệ, năm 1987)
.
Tác giả Phùng Gia Lộc, tháng 6-1988 - Ảnh tư liệu
Cuối năm 1983, tôi được ở nhà chờ quyết định về nghỉ chế độ. Chiều chủ nhật, thằng Học con tôi rủ rỉ nói:

- Con bắt được bác Quang ăn bánh cuốn ở hàng anh Minh. Bác đi thồ sắn ở chợ Phúc Địa về. Bác cho mấy bó nhưng con không lấy. Bác dặn con về đừng nói với bố mẹ là đã gặp bác. Nói, hôm nào sang bác đánh chết.

- Hừ! Lại thế nữa...

Tôi buột miệng bảo với con thế, rồi thừ ra. Bạn bè anh em cùng một phòng với nhau mà đi qua không vào. Có điều gì nhỉ?

Sáng thứ hai tôi sang cơ quan ứng mấy cân gạo và định bụng sẽ gặp, trút sấm sét lên đầu anh ấy. Nghe tôi trách, Lê Trung Quang, trưởng phòng tổ chức Ủy ban huyện Thọ Xuân, cười hà hà làm lành thật đôn hậu, dễ yêu:

- Giá có một mình thì tôi vào. Đằng này những bốn binh, khao được, anh cũng liệt. Vả lại, bốn cái xe nặng è, sợ tối.

Là trưởng phòng tổ chức ủy ban huyện, anh cũng để gia đình vợ con đói thiếu. Ra anh còn kém cỏi hơn cả tôi, một kẻ chân chim trần trụi, một tay sắp trở thành "phó thường dân". "Nhà mình cũng bí. Nộp sản đi rồi, lúa đã cạn. Khó mà ăn thấu tết được". Quang lắc đầu bảo thế. 

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2016

Nghệ thuật Hát Ả đào

Hoàng Quốc Hải


Hát Ả đào. Tranh sơn dầu của Phạm Công Thành (2015)




Như mọi người đều biết, “Ả đào” vốn là lối hát thờ, và nó từ cửa đình vào cung đình, lại từ cung đình trở về gia đình, và trở thành một thứ nhạc thính phòng quý phái tồn tại suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta. Đây là lối hát, múa có nhạc do một tốp nữ trình bày. Nhưng từ hậu Lê sang Nguyễn, không hiểu do những nguyên nhân đột biến sáng tạo nào, mà nó được chuyển sang hình thức độc đáo như còn tồn tại tới ngày nay. 

Thứ Bảy, 13 tháng 2, 2016

LỜI CỦA MỘT NHÂN DÂN

MỘT BÀI THƠ HAY CỦA NHÀ BÁO NGUYỄN QUANG VINH

LỜI CỦA MỘT NHÂN DÂN

NGUYỄN QUANG VINH
Nhân dân là mạ tôi
Tuổi 83, trước khi đi vào cát
Mạ chỉ biết một chữ tên mạ thôi
Sợ máy bay, ngồi hầm suốt thời kỳ chiến sự
Nhưng sẵn lòng dâng cho Tổ Quốc 4 đứa con ra trận
Tóc bạc trắng, chân yếu, mắt mờ, khát khao ngày giải phóng.
Nhân dân
Cày sâu cuốc bẩm
Rét buốt vẫn cắm tay xuống bùn gây mầm hạt lúa
Mái tóc nhân dân vương mùi rơm rạ
Bàn chân nhân dân giẫm trên phân bò, bùn, rác
Cho đất nước bội thu
Cho đất nước hiện đại
Cho đất nước thái bình
Đôi mắt nhân dân hiền từ như hạt lúa
Tiếng cười nhân dân vô tư như tiếng nước chảy vào bờ ruộng, bờ ao
Tấm lòng nhân dân như sen cửa phật, biết chở che và biết bao dung
Nhân dân không quên mặt ai
Chỉ có những kẻ tiểu nhân, bội ước thường quên mặt nhân dân
Nhân dân xây thành đắp lũy
Nhân dân thế chấp cuộc đời mình cho cháu con một chữ Việt Nam.
*
Tôi, một nhân dân
Bạn,một nhân dân
Em, một nhân dân
Nước mắt nhân dân mặn như giọt mồ hôi
Bàn tay nhân dân chai cứng cầm cày cuốc
Ai biết nhớ mùi phân bò vương trên đường làng
Ai biết nhớ mùi rơm rạ cháy mùa thu hoạch
Ai biết nhớ bà mẹ còng lưng ngóng đợi con ngày thắng trận
Ai nhớ củ khoai nhân dân trao vào ngày đói giữa rừng sâu
Như thế dù là vai trò trưởng thôn hay Chủ tịch
Nhân dân thân thương gần gũi
Nhân dân thân thương che chở
Nhân dân thân thương ủng hộ
*
Những năm qua nước mắt nhân dân rơi nhiều nơi
Rơi trên ruộng lúa nương khoai
Rơi chốn công đường
Rơi trên nền nhà, mồ mả
Nhân dân không oán thán
Nhưng buồn
Nỗi buồn nhân dân có thể làm trời cũng phải khóc
Ai không biết nhân dân buồn
Ai không biết nhân dân khóc
Ai không biết nhân dân nổi giận
Làm người không đáng, đáng gì làm quan
Đừng leo lẻo hứa
Đừng reo réo ngụy biện
Đừng xoen xoét giãi bày
Xấu tốt, cao thấp, đắt rẻ, u minh nhân dân đều biết
Nhân dân là cội rễ
Đừng làm bật gốc
Hãy vun vén cuộc sống cho nhân dân
Hãy quý trọng từng sợi rơm nhánh rạ
Hãy tôn trọng cả những bãi phân bò khô nơi ruộng lúa
Nhân dân là cha mẹ
Bất hiếu với cha mẹ há dám mặt làm người
Hãy vạch lá bắt sâu
Giữ cho cánh đồng nhân dân tươi tốt
*
Một nhân dân gửi tâm sự đáy lòng này
Đến nhiều nhân dân khác
2 giờ sáng Rằm tháng 7/2013- Mùa báo hiếu Nhân Dân.
Nguồn: cuvinhkhoailang